Cổng thông tin điện tử
Hội khuyến học Việt Nam
Hội khuyến học Việt Nam
Saturday, 01/08/2026

Các tin khác

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sức mạnh mềm trong Kỷ nguyên số

Cổng TTĐT Hội Khuyến học Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS Phạm Tất Dong "Sức mạnh mềm trong Kỷ nguyên số", cung cấp một cái nhìn toàn diện về khái niệm sức mạnh mềm từ nguồn gốc lý thuyết của Joseph Nye đến sự biến chuyển mạnh mẽ trong kỷ nguyên số. Nội dung nhấn mạnh rằng trong thời đại công nghệ, tầm ảnh hưởng của một quốc gia không còn chỉ dựa trên văn hóa hay chính trị truyền thống mà còn được khuếch đại qua hạ tầng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

 

 

 

I. Xuất xứ của khái niệm “Sức mạnh mềm”

Năm 1990, Joseph Nye, giáo sư trường Đại học Harvard đã đưa khái niệm “Sức mạnh mềm” (hay Quyền lực mềm/Soft Power) vào tác phẩm “Bound to Lead: The Changing Nature of American Power” (Bản chất thay đổi của quyền lực Mỹ). Đến năm 2004, ông đã hoàn thiện khái niệm này trong cuốn sách “Soft Power: The Means to Success in World Politics” (Sức mạnh mềm: Phương tiện để thành công trong lĩnh vực chính trị thế giới).

Theo Joseph Nye, “Sức mạnh mềm” là khả năng đạt được sự mong muốn thông qua sức hấp dẫn và sự thuyết phục, thay vì cưỡng ép hoặc mua chuộc.

Việc đưa ra khái niệm “Sức mạnh mềm” là một ý tưởng muốn thay đổi quyền lực thay vì sử dụng “Sức mạnh cứng” (Hard Power) - một sức mạnh dựa trên vũ lực và kinh tế với mục đích chinh phục, áp đặt quyền lực với một đối tác nào đó. Chiến tranh nóng là hiện tượng điển hình nhất về việc sử dụng quyền lực cứng của thế lực này đối với thế lực khác, bất chấp luật lệ quốc tế, chối bỏ giải pháp ngoại giao, đối thoại và thương lượng hoà bình.

Joseph Nye nêu lên 3 nguồn chủ yếu của sức mạnh mềm, gồm có:

  • Văn hoá (khi có sức hấp dẫn vượt ra ngoài biên giới quốc gia).
  • Các giá trị chính trị và xã hội (khi được thực thi một cách nhất quán và đáng tin cậy).
  • Chính sách đối ngoại (khi được nhìn nhận là hợp pháp, hợp đạo lý và vì lợi ích chung).

Sau Joseph Nye có một số nhà nghiên cứu đã phát triển khái niệm “Sức mạnh thông minh” (Smart Power). Khái niệm này cũng do Joseph Nye đề xuất. Nội dung của khái niệm này là sự kết hợp hài hoà giữa Sức mạnh mềm với Sức mạnh cứng nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong quản trị quốc gia và quan hệ quốc tế.

Năm 2015, Lee, Jack T. đã viết bài về “Soft Power and Cultural Diplomacy: Emerging education hubs in Asia” (“Sức mạnh mềm và ngoại giao văn hoá: Các trung tâm giáo dục mới nổi ở Châu Á”). Trong tác phẩm này, Jack T. Lee nhấn mạnh vai trò của giáo dục đại học đối với việc xây dựng chiến lược phát triển ngoại giao văn hoá của các quốc gia ở Châu Á nhằm mở rộng quyền lực mềm. Các trung tâm giáo dục đại học ươm mầm tài năng, đào tạo nhân tài sẽ có nhiều tác dụng để truyền tải các giá trị và lan toả văn hoá, bản sắc quốc gia, kết nối lâu dài với các quốc gia khác.

Năm 2023, Labreen, Olena và Kamil Ufur Bilgin có bài viết về “Importance of soft power in digital diplomacy” (Tầm quan trọng của quyền lực mềm trong ngoại giao kỹ thuật số). Trong tác phẩm này, các tác giả khẳng định rằng, quyền lực mềm là yếu tố cốt lõi để thuyết phục và thu hút công chúng và kỹ thuật số sẽ là đòn bẩy chiến lược.

II. Định nghĩa "Sức mạnh mềm"

Dựa theo quan niệm của Joseph Nye, Wikipedia tiếng Việt đã định nghĩa, “Sức mạnh mềm là khả năng đạt mục đích thông qua sự hấp dẫn, tự nguyện và thuyết phục, thay vì sử dụng biện pháp ép buộc, đe doạ vũ lực hay tiền bạc”.

Khái niệm này dựa trên 3 trụ cột chính của một quốc gia:

  • Văn hoá: Văn hoá được thu hút với sự quan tâm và thiện cảm của các quốc gia khác.
  • Các giá trị chính trị: Hệ thống giá trị nội tại được xem là chuẩn mực hoặc đáng học hỏi.
  • Chính sách đối ngoại: Chính sách của quốc gia được cộng đồng quốc tế công nhận là hợp pháp và có đạo đức.

Trong kỷ nguyên số, định nghĩa về “Sức mạnh mềm” của Joseph Nye, chỉ dựa vào 3 trụ cột trên đây đã có sự thay đổi, vì điều kiện phát triển của “Sức mạnh mềm” đầu thế kỷ XXI mà ông đưa ra đã mất tính độc quyền của quốc gia bởi thuật toán mạng xã hội (Social Media Algorithm) đã chi phối cách ta hiểu về “sức mạnh mềm” bằng cách chuyển quyền định hình bản sắc quốc gia từ các phương tiện truyền thông chính thống sang các nền tảng đề xuất nội dung.

Các thuật toán này định hình sức mạnh mềm theo các hướng cụ thể sau:

  • Từ thông điệp có chủ đích sang nội dung lan truyền (Viral Content), sức mạnh mềm không còn là những chiến dịch tuyên truyền của Chính phủ, tức là không còn chỉ là nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao, mà bị chi phối bởi các biểu tượng số như Video ngắn, Meme hay Hashtag do các thuật toán đề xuất để tối đa hoá sự tương tác.
  • Không gian nhận thức về sức mạnh mềm bị phân mảnh khiến các nhóm công chúng khác nhau sẽ tiếp nhận những phiên bản sức mạnh mềm cũng rất khác nhau.
  • Các giá trị văn hoá bị các thuật toán đóng gói thành các sản phẩm thương mại, nội dung dễ tiêu thụ và mang tính xu hướng.

Trong kỷ nguyên số có nhiều loại lực khác nhau về Sức mạnh mềm. Tôi tạm gọi chung các loại hình đó bằng thuật ngữ “Sức mạnh mềm kỹ thuật số”. Nó biểu hiện ở khả năng thu hút và thuyết phục thông qua các công cụ kỹ thuật số, bao gồm Văn hoá số, Truyền thông mạng xã hội, giáo dục trực tuyếnCông nghệ mới (AI, Big Data...). Nó giúp lan toả các giá trị quốc gia vượt qua mọi biên giới địa lý.

Các loại hình cốt lõi của Sức mạnh mềm kỹ thuật số bao gồm:

  • Sức mạnh từ Nội dung số và Giải trí (Digital Content): Điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử (Video games) và các nền tảng chia sẻ video. Đây là công cụ sắc bén nhất để tiếp cận thế hệ trẻ và định hình hình ảnh quốc gia vừa chân thật, vừa lôi cuốn.
  • Sức mạnh từ Truyền thông mạng xã hội: Các chiến dịch truyền thông đối ngoại tích hợp trên Facebook, TikTok, YouTube... có giá trị hướng dẫn, lan toả lối sống và sự đồng thuận trong cộng đồng quốc tế.
  • Sức mạnh từ ngoại giao công nghệ (Tech Diplomacy): Chia sẻ các giải pháp chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo (AI, vi mạch bán dẫn), từ đó nâng cao uy tín quốc gia trên bản đồ địa - chính trị.
  • Sức mạnh từ giáo dục trực tuyến và Chuyển đổi số Di sản: Kho tàng di tích, lịch sử văn hoá và các giá trị quốc gia được số hoá, các khoá học trực tuyến mở (MOOCs) tạo ra những đợt xuất khẩu trí thức, bản sắc văn hoá đến công dân các quốc gia trên toàn cầu.
  • Sức mạnh từ Năng lực Thể chế số: Thiết lập các luật định, tiêu chuẩn về quản trị không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, quyền riêng tư mang lại sự nể trọng và sức hút trong các cộng đồng cư dân mạng trong và ngoài nước.

Tôi thú vị với cách phân loại Sức mạnh mềm kỹ thuật số mà AI tổng hợp, vừa dễ hiểu, vừa thiết thực lại vừa đầy đủ. Theo AI, trong thời đại số, sức mạnh mềm được mở rộng thành khả năng tạo ảnh hưởng thông qua hạ tầng số, dữ liệu, trí thức và các hệ sinh thái công nghệ. Với quan niệm này, có 7 loại hình cốt lõi của Sức mạnh mềm kỹ thuật số sau đây:

- Sức mạnh mềm về nền tảng công nghệ số (Digital Platform Power).

Các nền tảng mà thế giới sử dụng hằng ngày là:

  • Mạng xã hội,
  • Công cụ tìm kiếm,
  • Hệ điều hành,
  • Nền tảng thương mại điện tử,
  • Nền tảng AI.

- Sức mạnh mềm về AI và tri thức (AI & Knowledge Power).

  • Tạo ra tri thức mới,
  • Đặt chuẩn mực đạo đức AI,
  • Cung cấp công cụ tư duy cho thế giới.

- Sức mạnh mềm về dữ liệu (Data Power)

  • Khả năng thu thập dữ liệu,
  • Quản trị dữ liệu,
  • Biến dữ liệu thành tri thức và giá trị,

- Sức mạnh mềm về văn hoá số (Digital Cultural Power).

  • Phim ảnh,
  • Âm nhạc,
  • Trò chơi,
  • Nội dung sáng tạo,
  • Các cộng đồng trực tuyến.

- Sức mạnh mềm về giá trị và đạo đức số (Digital Values Power)

  • Công nghệ phục vụ con người.
  • AI với trách nhiệm lan toả các giá trị và đạo đức.
  • Việc bảo vệ quyền riêng tư.

- Sức mạnh mềm về nhân tài số (Digital Talent Power).

Nguồn lực quan trọng là:

  • Nhà khoa học,
  • Kỹ sư AI,
  • Doanh nhân công nghệ,
  • Các nhà tư tưởng có tầm nhìn rộng.

- Sức mạnh mềm về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (Innovation Ecosystem Power)

  • Đại học mạnh,
  • Viện nghiên cứu mạnh,
  • Doanh nghiệp sáng tạo,
  • Quỹ đầu tư,
  • Cộng đồng khởi nghiệp.

Từ 7 sức mạnh mềm kỹ thuật số cốt lõi trên đây, ta có công thức:

Sức mạnh mềm kỹ thuật số = Công nghệ + Dữ liệu + AI + Văn hoá + Giá trị + Nhân tài + Hệ sinh thái đổi mới.

III. Sức mạnh mềm của một số quốc gia.

1. Mỹ

a. Những nội dung sức mạnh mềm có sức lan toả mạnh nhất

  • Văn hoá đại chúng (Popular Culture):

Điện ảnh Hollywood: Các bộ phim, nhân vật, câu chuyện Mỹ đã trở thành ngôn ngữ văn hoá toàn cầu.

Âm nhạc: Nhạc jazz, rock, hip-hop, pop hiện đại có ảnh hưởng lớn đến thị hiếu âm nhạc toàn cầu.

Truyền hình, nền tảng giải trí số: Trên nền tảng trực tuyến, văn hoá Mỹ đã tiếp cận hàng tỷ người.

b. Những công nghệ số cốt lõi giúp Mỹ truyền tải sức mạnh mềm có hiệu quả nhất:

  • Trí tuệ nhân tạo: Có khả năng định hướng tương lai. AI trở thành trợ lý thông minh, góp phần nghiên cứu và phát triển văn hoá khởi nghiệp công nghệ; AI còn khuếch đại các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, y tế và giải trí.
  • Nền tảng Internet và mạng xã hội: Đó là các nền tảng Google, Meta Platforms, YouTube và Mạng xã hội (X).

c. Điện toán đám mây: Nền tảng công nghệ lớn ở đây là Amazon Web Services, Microsoft Azure, Google Cloud.

d. Công nghệ bán dẫn và hệ sinh thái tính toán: Chip là hạ tầng vật chất của thời đại số; sức mạnh mềm dựa trên thiết kế chip, kiến trúc tính toán, phần mềm thiết kế và hệ sinh thái nghiên cứu.

2. Trung Quốc

a. Những nội dung của sức mạnh mềm có sức lan toả mạnh nhất

  • Văn hoá Trung Hoa truyền thống: Triết học Khổng giáo, Đạo gia, tư tưởng hài hoà giữa con người và tự nhiên; Thư pháp, Trà đạo, y học cổ truyền, võ thuật; Ẩm thực và nghệ thuật Trung Hoa; Lịch sử văn minh lâu đời.
  • Mô hình phát triển kinh tế: Công nghiệp hoá nhanh; Xoá đói giảm nghèo trên quy mô lớn; Phát triển hạ tầng mạnh mẽ và khả năng tổ chức các dự án lớn.
  • Công nghệ số và Kinh tế nền tảng: Các lĩnh vực phát triển là Thanh toán số, Thương mại điện tử, thành phố thông minh, các ứng dụng AI và công nghệ sản xuất thông minh; Các doanh nghiệp công nghệ như Alibaba Group, Tencent, ByteDance đã tạo ra những sản phẩm có ảnh hưởng toàn cầu.
  • Nội dung số và giải trí trực tuyến: Phim truyền hình lịch sử, hoạt hình, Game, Video ngắn và văn hoá mạng.
  • Hình ảnh quốc gia ổn định: Năng lực quản trị quy mô lớn, tư duy dài hạn, kết hợp truyền thống với hiện đại rất nhuần nhuyễn.

b. Các công nghệ cốt lõi làm nền tảng cho sức mạnh mềm:

  • Trí tuệ nhân tạo: Trụ cột chiến lược mới để phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông minh...
  • Công nghệ nền tảng số/Siêu ứng dụng (Super App): Các hệ sinh thái như thanh toán số, thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến tạo ra những mô hình kinh tế số có khả năng lan toả tới nhiều quốc gia.
  • 5G và hạ tầng viễn thông: Các doanh nghiệp đóng vai trò lớn trong việc cung cấp các thiết bị và giải pháp mạng 5G cho nhiều nước, tạo ảnh hưởng công nghệ.
  • Thương mại điện tử xuyên quốc gia: Các nền tảng mua sắm trực tuyến, giúp hàng hoá, thương hiệu và văn hoá tiêu dùng Trung Quốc tiếp cận người dùng toàn cầu.
  • Công nghệ năng lượng mới: Công nghệ lưu trữ năng lượng, xe điện, pin Lithium, năng lượng mặt trời...
  • Công nghệ sản xuất thông minh: Robot công nghiệp, tự động hoá, nhà máy thông minh, đưa hình ảnh Trung Quốc như một quốc gia công nghệ cao, một mô hình "công xưởng thế giới".
  • Công nghệ không gian: Chương trình vũ trụ, vệ tinh định vị, thám hiểm Mặt Trăng, thể hiện năng lực khoa học - công nghệ quốc gia đang vươn lên tầm cỡ quốc tế.
  • Công nghệ dữ liệu lớn và Điện toán đám mây: Đưa dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược để phát triển kinh tế số, đô thị thông minh và quản trị số.
  • Công nghệ truyền thông số và giải trí trực tuyến: Video ngắn, nền tảng nội dung số, trò chơi trực tuyến giúp văn hoá đại chúng Trung Quốc tiếp cận toàn cầu.

3. Nhật Bản

a. Những nội dung sức mạnh mềm có sức lan toả mạnh:

  • Văn hoá đại chúng: Anime (Phim hoạt hình) trở thành ngôn ngữ văn hoá toàn cầu, ảnh hưởng sâu sắc tới thanh, thiếu niên nhiều quốc gia; Manga (Truyện tranh) tạo nên ngành công nghiệp kể chuyện có sức hấp dẫn vượt biên giới; Game điện tử với các thương hiệu như Nintendo, Pokémon, Final Fantasy... đã biến trí tưởng tượng Nhật Bản thành tài sản toàn cầu; Âm nhạc và thời trang đường phố, văn hoá giới trẻ Tokyo đã tạo ra hình ảnh Nhật Bản hiện đại và sáng tạo.
  • Văn hoá truyền thống và Triết lý sống: Thiền (Zen), trà đạo, hoa đạo (Ikebana) là một nét văn hoá mà nhiều quốc gia ngưỡng mộ; Tinh thần Wabi-sabi đã tạo ra vẻ đẹp giản dị, không hoàn hảo mà giới trẻ trên thế giới bị hấp dẫn; Ý thức cộng đồng và sự hài hoà xã hội (Wa) được nhiều người quan tâm; Nghệ thuật thủ công, kiến trúc, ẩm thực... của Nhật Bản không trộn lẫn vào đâu được.
  • Hình ảnh quốc gia gắn với chất lượng và sự tin cậy: Đây là sức mạnh mềm về kinh tế của Nhật Bản; Thương hiệu Nhật Bản nổi tiếng về độ bền, sự chính xác và tinh thần cải tiến; Triết lý Kaizen (Cải tiến liên tục) được nhiều doanh nghiệp trên thế giới học hỏi; Hình ảnh con người Nhật Bản trách nhiệm, đúng giờ, tôn trọng khách hàng... tạo sự hấp dẫn lớn.
  • Giá trị xã hội và hình ảnh quốc gia hoà bình: Chủ nghĩa hoà bình thấm đượm trong suy nghĩ con người Nhật Bản; Quốc gia mở rộng sự hợp tác với các quốc gia khác, hỗ trợ giáo dục, y tế, hạ tầng với nhiều nước trên thế giới; Chính phủ rất chú trọng ngoại giao văn hoá theo tinh thần vì hoà bình và hợp tác trên thế giới.

b. Những công nghệ cốt lõi làm nền tảng cho sức mạnh mềm của Nhật Bản:

  • Công nghệ Robot và Trí tuệ nhân tạo: Robot công nghiệp có độ chính xác cao; Robot dịch vụ, chăm sóc sức khoẻ và người già cả rất hiệu quả; Robot hình người (Humanoid) gắn với hình ảnh thân thiện của người Nhật; AI được ứng dụng mạnh mẽ trong sản xuất, y tế và giáo dục.
  • Công nghệ sản xuất chính xác và vật liệu tiên tiến: Các lĩnh vực then chốt là công nghệ chế tạo vi cơ khí (Precision engine Engineering); Vật liệu nhẹ, bền và chịu nhiệt; Công nghệ bán dẫn, cảm biến, linh kiện siêu nhỏ; Kỹ thuật kiểm soát chất lượng.
  •  Công nghệ ô tô xanh và giao thông thông minh: Những công nghệ tiêu biểu là động cơ hybrid, xe điện, Pin và quản lý năng lượng, hệ thống giao thông thông minh và công nghệ tàu cao tốc Shinkansen.
  • Công nghệ nội dung số: Công nghệ đồ họa 2D/3D; hoạt hình kỹ thuật số; công nghệ thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR); công nghệ phát triển game và nền tảng phân phối nội dung toàn cầu.
  • Công nghệ bán dẫn, cảm biến và điện tử tiêu dùng: Cảm biến hình ảnh; Linh kiện điện tử cao cấp; Thiết bị sản xuất chip; Vật liệu bán dẫn và công nghệ quang học.
  • Công nghệ sinh học và y tế: Công nghệ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; Thiết bị y tế chính xác; Công nghệ tái tạo mô; Dược phẩm sinh học.

IV. Sức mạnh mềm của Việt Nam

Sức mạnh mềm của Việt Nam hiện nay có những lợi thế khá đặc biệt, không phải sức mạnh của một cường quốc công nghệ, cũng không phải ở nền công nghiệp giải trí, mà nằm ở bản sắc văn hóa, lịch sử, con người và khả năng thích ứng.

Những nội dung đặc trưng của sức mạnh mềm Việt Nam là:

1. Bản sắc văn hoá lâu đời và khả năng dung hợp văn hoá:

  • Nền văn hoá nông nghiệp lúa nước với tinh thần cộng đồng, gắn kết gia đình - làng xã.
  • Khả năng tiếp nhận và Việt hoá các ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài.
  • Sự kết hợp hợp lý và sáng tạo văn hoá truyền thống với văn hoá hiện đại.

2. Hình ảnh con người Việt Nam:

  • Cần cù lao động, chịu khó học hỏi.
  • Thích nghi nhanh với những hoàn cảnh mới.
  • Có tinh thần vượt khó.
  • Cởi mở và hiếu khách.
  • Sáng tạo trong những điều kiện hạn chế.

3. Ẩm thực Việt Nam:

  • Các món ăn độc đáo, khác biệt với mọi quốc gia.
  • Lối ẩm thực kết hợp hài hoà giữa các yếu tố truyền thống – hiện đại, âm – dương, nóng – lạnh.

4. Di sản lịch sử và tinh thần độc lập dân tộc:

  • Lịch sử bảo vệ độc lập rất hào hùng.
  • Khả năng tồn tại và phục hồi mạnh mẽ.
  • Tinh thần yêu nước và ý chí tự chủ rất cao.

5. Văn hoá sáng tạo và sức trẻ:

  • Các thế hệ trẻ Việt Nam tiếp nhận nhanh các công nghệ hiện đại.
  • Cộng đồng sáng tạo nội dung phát triển mạnh.
  • Có nhiều khả năng khởi nghiệp, thương mại điện tử, kinh tế số.

6. Ngoại giao mềm dẻo, thể hiện một quốc gia yêu chuộng hoà bình:

  • Chính sách đối ngoại cân bằng, hợp lý.
  • Vai trò của các tổ chức quốc tế được tôn trọng, sự hợp tác chặt chẽ và dân chủ.
  • Sự chuyển đổi từ chiến tranh sang hoà bình mau lẹ, có hiệu quả cao.

7. Tiềm năng sức mạnh mềm

  • Việt Nam thể hiện năng lực tiếp cận các công nghệ phần mềm, Trí tuệ nhân tạo, Game và nội dung số rất triển vọng.
  • Các nền tảng văn hoá số được nhà nước quan tâm.

Trên hành trình tiến vào kỷ nguyên số, những nền tảng công nghệ số cho sức mạnh mềm của Việt Nam đang được chú ý phát triển là:

a. Công nghệ số và AI

AI hiện đang nổi lên như những công cụ gia tốc và trục lực cho sức mạnh mềm Việt Nam.

Nó đang hỗ trợ cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mở ra những cơ hội mới, đầy tiềm năng cho sự phát triển sức mạnh mềm của Việt Nam.

b. Sự kết nối và tương tác cộng đồng:

Sự kết nối này thể hiện tập trung của mô hình gắn kết gia đình – dòng họ – thôn bản – các tổ chức chính phủ và NGO, tạo nên sức mạnh vật chất và văn hoá từ cơ sở.

c. Số hoá di sản văn hoá:

Các công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường và AI đã trở thành những yếu tố then chốt phát huy những giá trị quốc gia và bản sắc dân tộc, lan toả ngày càng xa và rộng trong khu vực và trên thế giới.

V. Giáo dục Việt Nam với nhiệm vụ phát triển sức mạnh mềm quốc gia.

Đây là vấn đề mà nếu giáo dục thấy mình có trách nhiệm với việc phát triển sức mạnh mềm thì phải đổi mới bản thân mang tính đột phá để tạo ra con người và nguồn nhân lực chất lượng mới, tạo ra những giá trị hoàn toàn mới, đáp ứng thị trường lao động mới bằng hệ thống công nghệ giáo dục hiện tại với những ý tưởng sáng tạo ưu việt. Còn "hoài cổ" (không dám nói là bảo thủ) thì giáo dục sẽ bất lực trước nhiệm vụ này.

Những hướng phát triển mới mà giáo dục cần lưu ý và tập trung là:

1. Chuyển mục tiêu đào tạo: Chuyển từ "đào tạo người biết" sang "đào tạo người có tầm nhìn và năng lực kiến tạo". Cần hiểu ý này như sau: Giáo dục không chỉ đào tạo người giỏi tiếp thu kiến thức, mà là người có khả năng:

  • Tạo tri thức mới.
  • Giải quyết vấn đề có tính toàn cầu.
  • Tư duy độc lập.
  • Trách nhiệm xã hội.

Tóm lại, mục tiêu đào tạo người có bằng cấp sang người có năng lực kiến tạo.

2. Đưa văn hoá Việt Nam trở thành một nội dung cốt lõi của giáo dục.

Những tài sản mềm của Việt Nam cần trở thành những nội dung trong chương trình giáo dục là:

  • Truyền thống nhân nghĩa.
  • Văn hoá cộng đồng.
  • Khả năng thích ứng và vượt khó.
  • Văn minh lúa nước và những giá trị nhân văn của văn hoá này.
  • Những di sản văn hoá độc đáo.

3. Làm tốt giáo dục ngoại ngữ và năng lực giao tiếp toàn cầu.

  • Người dân nào cũng có ít nhiều khả năng ngoại ngữ để làm cho văn hoá Việt lan toả tới người nước ngoài nhanh hơn và hiệu quả hơn.
  • Hiểu văn hoá các quốc gia và giao lưu văn hoá rộng rãi với các dân tộc khác.
  • Tham gia các mạng lưới học thuật, công nghệ, văn hoá toàn cầu.

4. Phát triển giáo dục sáng tạo và đổi mới công nghệ.

Sức mạnh mềm trong thời đại ngày nay phải gắn chặt với công nghệ số. Vì vậy, giáo dục phải tạo ra những con người có khả năng kết hợp:

  • Khoa học - công nghệ
  • Văn hóa - nghệ thuật
  • Kinh doanh - xã hội.

5. Xây dựng văn hóa học thuật và vai trò của Trí thức

Quốc gia Việt Nam muốn có sức mạnh mềm lớn thì phải có đội ngũ trí thức đồng bộ. Trong đội ngũ này, buộc phải có những trí thức với thành phần sau:

  • Nhà khoa học
  • Nhà Tư tưởng
  • Doanh nhân
  • Nghệ sĩ
  • Nhà giáo dục

6. Xây dựng các trường đại học thành trung tâm lan tỏa văn hóa và tri thức.

Muốn vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có chương trình sau đây:

  • Nâng tầm một số trường đại học thành trung tâm nghiên cứu quốc tế.
  • Mở rộng quy mô đào tạo sinh viên nước ngoài tại một số trường đại học.
  • Phát triển nhiều chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh trong các lĩnh vực Việt Nam học, Văn hóa Việt Nam, Công nghệ Việt Nam.

7. Giáo dục đạo đức công dân số

Cần tổ chức việc học tập suốt đời để mọi công dân liên tục cập nhật kiến thức mới, kỹ năng mới, từ đó, nhiều công dân có thể trở thành “Đại sứ mềm” trong việc lan tỏa văn hóa Việt ra ngoài biên giới quốc gia.

Trong các loại hình trường nên có các khóa học để tăng cường các năng  lực như:

  • Tranh luận về văn hóa
  • Tôn trọng sự khác biệt.
  • Trách nhiệm phát ngôn trên mạng.
  • Tinh thần đóng góp cho cộng đồng.

 

​​​​


GS.TS Phạm Tất Dong

Tin đọc nhiều