LỜI MỞ ĐẦU
Cách đây đúng một phần tư thế kỷ, Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam (gọi tắt là Hội Khuyến học Việt Nam) đã chính thức được thành lập (2/10/1996). Sự kiện lịch sử này là một bước nối tiếp những phong trào vận động nhân dân học tập do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo: Phong trào học chữ quốc ngữ do Hội Truyền bá quốc ngữ tiến hành (1938 – 1945), phong trào Bình dân học vụ xóa nạn mù chữ trong toàn dân để kháng chiến và kiến quốc (1945 – 1950), và tiếp sau đó là phong trào Bổ túc văn hóa cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.
Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế của nước ta vốn đã yếu kém lại phải đối đầu với nhiều khó khăn. Để ổn định tình hình kinh tế - xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh chính trị (1991) về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Để đạt mục tiêu phát triển nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, cương lĩnh chính trị khẳng định rằng, “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, sứ mệnh của giáo dục và đào tạo phải phát huy được năng lực sáng tạo của con người Việt Nam trên cơ sở giáo dục thường xuyên, học tập suốt đời, lấy tự học, tự giáo dục, tự rèn luyện làm cốt.
Sau khi Cương lĩnh Chính trị được ban hành, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã đề xuất một vấn đề mang tính chiến lược: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, nên cần có một đoàn thể xã hội hoạt động hỗ trợ công cuộc chấn hưng và phát triển giáo dục”.
Hội Khuyến học Việt Nam ra đời chính từ ý tưởng trên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội Khuyến học Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015 đã đánh giá rất cao sáng kiến thành lập tổ chức hỗ trợ chấn hưng giáo dục của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
“Hội Khuyến học Việt Nam với tinh thần phấn đấu cao nhất sẽ cùng với mọi cá nhân và tổ chức góp phần làm cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ thực sự trở thành quốc sách số 1. - Nâng cao dân trí - Đào tạo nhân lực; - Bồi dưỡng nhân tài. Đó là con đường của hưng quốc, là động lực quan trọng bậc nhất đưa Tổ quốc Việt Nam tiến lên những đỉnh cao của thời đại”. - Võ Nguyên Giáp -
|
Nhìn lại chặng đường 25 năm vừa đi qua, Hội Khuyến học Việt Nam đã nỗ lực hết mình thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Trung ương Đảng giao cho: Khuyến học, khuyến tài, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, đáp ứng lòng tin yêu của Đảng và Nhà nước, trở thành tổ chức xã hội có tính đặc thù, tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.
PHẦN I
CUỘC VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM
I. Thành lập Ban Vận động
Đầu năm 1995, một Ban Vận động thành lập Hội Khuyến học Việt Nam đã được hình thành.
- Trưởng ban: Hoàng Xuân Tùy, Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
- Các ủy viên:
- Hồ Trúc: Thứ trưởng Bộ Giáo dục,
- Hoàng Quốc Dũng: Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước,
- Hoàng Lương: Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao,
- Vũ Anh Tuấn: Nguyên ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội,
- Nguyễn Huy Mạc: Nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa giáo – Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng.
- Nguyễn Văn Đạo: Giám đốc Đại học Quốc gia,
- Nguyễn Mậu Bành: Chủ tịch Công đoàn ngành Giáo dục,
- Nguyễn Túc: Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
- Vũ Hữu Loan: Nguyên cố vấn Ban Cán sự Đảng ngoài nước,
- Nguyễn Cảnh Toàn: Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục,
- Đoàn Diễn: Văn phòng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
II. Hoạt động của Ban Vận động
- Ngày 30/4/1995: | Ban Vận động có công văn lên Thủ tướng Chính phủ, xin phép thành lập Hội (trụ sở tạm thời tại 19 Lê Thánh Tông, Văn phòng Đại học Quốc gia. |
- Ngày 26/6/1995: | Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân có công văn số 4459/VP-BGDĐT lên Thủ tướng Chính phủ, ủng hộ việc thành lập Hội. |
- Ngày 11/7/1995: | Ban Vận động gửi tờ trình lên Thủ tướng Chính phủ và bản dự thảo Điều lệ Hội, xin phép thành lập Hội |
- Ngày 3/8/1995: | Ban Vận động làm việc với Ban Tổ chức – Cán bộ của Chính phủ để hoàn thiện hồ sơ thành lập Hội và kế hoạch tổ chức Đại hội. |
- Ngày 01/11/1995: | Ban Vận động xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, cố vấn Chính phủ Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo về chức năng của Hội |
3 chức năng của Hội Khuyến học Việt Nam
|
Sự đồng tình và khích lệ của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ của các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể cũng như sự góp sức của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học, cán bộ và chuyên gia giáo dục đã cổ vũ cho Ban Vận động tích cực hoạt động.
Nhân dân nhiều địa phương hăng hái xin gia nhập Hội vì chấn hưng và đổi mới giáo dục là nguyện vọng của toàn dân, khuyến học, khuyến tài là đại nghĩa của dân tộc.
- Ngày 29/2/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 122/TTg, duyệt y việc thành lập Hội Khuyến khích và Hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam (gọi tắt là Hội Khuyến học Việt Nam).
- Ngày 2/10/1996, Đại hội thành lập Hội Khuyến học Việt Nam đã được long trọng tổ chức tại Hà Nội.
(Năm 1991, UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã ký Quyết định thành lập Hội Khuyến học Quảng Nam – Đà Nẵng, vì thế, khi Hội Khuyến học Việt Nam thành lập thì hội viên tổ chức Hội Khuyến học Quảng Nam – Đà Nẵng đã hoạt động từ 5 năm trước đó).
PHẦN II
NHỮNG ĐẠI HỘI NHIỆM KỲ TRONG 25 NĂM (1996 – 2020)
CỦA HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM
I. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Khuyến học Việt Nam (nhiệm kỳ 10/1996 – 6/1999)
Ngày tổ chức Đại hội: 2/10/1996.
Địa điểm tổ chức Đại hội: Hà Nội
Số lượng đại biểu được triệu tập: 200
Số hội viên trong toàn quốc: Hơn 100.000
Số tỉnh, thành có Hội khuyến học: 21
Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa I: 41
Lãnh đạo Trung ương Hội:
Chủ tịch Hội: GS.NGND Nguyễn Lân
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Hoàng Quốc Dũng
Các Phó Chủ tịch:
- Hồ Trúc
- Hoàng Xuân Tùy
1. Những hoạt động và sự kiện trong nhiệm kỳ Đại hội I:
- 11/1996: Hội nghị góp ý xây dựng Dự thảo Luật Giáo dục và Đề án xây dựng mạng lưới các trường đại học và cao đẳng.
- 11/1996: Hội nghị góp ý dự thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Hai (khóa VIII) về định hướng phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000.
- 12/1996: Thành lập Ban biên tập báo “Khuyến học”, cơ quan ngôn luận của Hội và kế hoạch phát hành số đầu tiên vào tháng 1/1997 (số tết Đinh Sửu).
- 1/1997: Hội nghị với các đại sứ các nước ở Hà Nội, các nhà báo quốc tế đang hoạt động ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế có trụ sở ở Việt Nam để giới thiệu Hội.
Hội nghị do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chủ tịch danh dự của Hội chủ trì, được tổ chức ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
- 1/1997: Thành lập Văn phòng Trung ương Hội (Trụ sở đầu tiên: Số 21, phố Lý Nam Đế, Hà Nội).
- 3/2/1997: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra văn bản 03/TB/MTTW công nhận Hội Khuyến học Việt Nam là tổ chức thành viên.
- 7/1997: Đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Trung ương Đảng, thay mặt Ban Bí thư tặng Hội 1 tỷ đồng để làm vốn ban đầu của Quỹ khuyến học.
- 6 tháng đầu năm 1997: Hội khẩn trương xúc tiến thành lập các tổ chức Hội ở địa phương.
- 20/10/1998: Hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến trong phong trào khuyến học các tỉnh phía Bắc (Nam Định).
- 18/2/1999: Hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến trong phong trào khuyến học các tỉnh phía Nam (TP. Hồ Chí Minh).
2. Những thành quả lớn của Hội giai đoạn 1996 – 1999
Trong nhiệm kỳ 1996 – 1999, Trung ương Hội đã nhanh chóng mở ra các hoạt động tư vấn, tham mưu xây dựng các Đề án giáo dục, Luật Giáo dục và các văn kiện của Đảng. Phong trào thi đua khuyến học được phát động ngay sau Đại hội thành lập Hội, thể hiện sự ủng hộ của đông đảo nhân dân với sự nghiệp khuyến học, khuyến tài. Những khó khăn ban đầu về cơ sở vật chất – kỹ thuật, về tài chính đã nhanh chóng được khắc phục. Cán bộ cốt cán của Trung ương Hội và các Hội địa phương tuy đã cao tuổi nhưng hết sức nhiệt tình và cố gắng trong phong trào khuyến học.
II. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Hội Khuyến học Việt Nam (nhiệm kỳ 6/1999 – 12/2005)
Ngày tổ chức Đại hội: 16/6/1999.
Địa điểm tổ chức Đại hội: Hà Nội
Số lượng đại biểu được triệu tập: 152
Số hội viên trong toàn quốc: 500.000
Số tỉnh, thành có Hội khuyến học: 28
Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa II: 86
Lãnh đạo Trung ương Hội:
Chủ tịch danh dự: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch: Vũ Oanh
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Phạm Tất Dong
Các phó chủ tịch:
- Trần Xuân Nhĩ;
- Nguyễn Văn Hanh.
- Đoàn Duy Thành.
1. Những hoạt động và sự kiện lớn trong nhiệm kỳ Đại hội II
- 10/8/1999: Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 50-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam”.
- 9/9/1999: Nhà nước chính thức công nhận Quỹ Khuyến học Việt Nam tai văn bản 183/1999/CT-TTg.
- 15/10/1999: Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 29/1999/CT-TTg về “Phát huy vai trò của Hội Khuyến hoc Việt Nam”.
- 25/10/2000: Đại hội thi đua “Vì sự nghiệp khuyến học” được tổ chức tại Hà Nội (Tỉnh hội Nam Định, Hà Nội, Vĩnh Long, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng nhận Bằng khen của Chính phủ).
- 19-20/1/2001: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội lần thứ 3 (khóa II) thông qua Đề án “Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở”.
- 27/10/2003: Chính phủ có Công văn 176/VPCP-TT giao cho Hội Khuyến học và Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án “Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập”.
- 10-11/12/2004: Đại hội biểu dương gia đình hiếu học tiêu biểu tại Hà Nội. 350 đại biểu, đại diện cho 1.234.345 gia đình hiếu học đã về dự Đại hội.
Đại hội phát động thi đua xây dựng mô hình “Dòng họ khuyến học”.
- 18/5/2005: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 112/2005/QĐ-TTg về “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 – 2010”.
2. Những thành quả lớn của Hội giai đoạn 1999 – 2005
- Đã xác định nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập, vận động người dân học tập suốt đời là một trọng tâm công tác của toàn Hội.
- Phát triển rất nhanh tổ chức Hội và hội viên: 100% tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, 99,22% quận/huyện/thị xã, 90% xã/phường/thị trấn có các tổ chức Hội với 3.500.000 hội viên.
- Xây dựng 6.130 Trung tâm học tập cộng đồng (trên 50% cộng đồng hành chính cấp xã).
III. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Hội Khuyến học Việt Nam (nhiệm kỳ 1/2006 – 9/2010)
Ngày tổ chức Đại hội: 5-6/12/2005.
Địa điểm tổ chức Đại hội: Hà Nội
Số lượng đại biểu được triệu tập: 485
Số tỉnh, thành có Hội khuyến học: 63
Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa III: 133
Lãnh đạo Trung ương Hội:
Chủ tịch danh dự: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch: Nguyễn Mạnh Cầm
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Phạm Tất Dong
Các phó chủ tịch:
- Trần Xuân Nhĩ
- Trần Tình
- Cao Sĩ Kiêm
- Huỳnh Văn Bình
- Lương Ngọc Toản
Tại Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã trao tặng Hội bức trướng
HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI XÂY DỰNG CẢ NƯỚC TRỞ THÀNH MỘT XÃ HỘI HỌC TẬP |
1. Những hoạt động và sự kiện lớn trong nhiệm kỳ Đại hội III
- 13/4/2007, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 11-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, yêu cầu Hội phát huy vai trò nòng cốt trong cuộc vận động toàn dân học tập suốt đời và mau chóng tìm ra mô hình xã hội học tập phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam.
- 1/8/2007: Hội khuyến học triển khai Đề tài độc lập cấp nhà nước về “Xây dựng mô hình học tập ở Việt Nam” theo Quyết định 616/QĐ-BKHCN, ngày 19/4/2007 của Bộ Khoa học và công nghệ (Hợp đồng nghiên cứu số 01/2007/HĐ-ĐTĐL, 1/8/2007).
- 8/1/2008: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 02/2008/CT-TTg về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo Chỉ thị 11-CT/TW.
- 16/9/2008: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 1271/QĐ-TTg lấy ngày 2/10 hàng năm làm “Ngày khuyến học Việt Nam”.
- 9/10/2007: Đại hội toàn quốc biểu dương các “Gia đình hiếu học” và “Dòng họ khuyến học”. Về dự Đại hội có 321 “Gia đình hiếu học” (đại diện cho 3.500.000 gia đình hiếu học trong cả nước), 70 “Dòng họ khuyến học” (đại diện cho gần 3000 dòng họ đạt dah hiệu “Dòng họ khuyến học).
Đại hội ra nghị quyết thi đua xây dựng “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ hiếu học” và “Cộng đồng khuyến học”.
Đại hội ra nghị quyết thi đua xây dựng “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ hiếu học” và “Cộng đồng khuyến học”.
- 24/9/2009: Đại hội thi đua khuyến học toàn quốc lần thứ II.
2. Những thành quả lớn của Hội giai đoạn 2006 – 2010
- Căn cứ thành tích của Hội Khuyến học Việt Nam, Trung ương Đảng đã khẳng định “Khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập” là nhiệm vụ chính trị của Hội.
- Những cống hiến của Hội và của toàn thể nhân dân trong sự nghiệp khuyến học, khuyến tài đã đem lại “Ngày khuyến học 2/10” – một ngày lễ của nhân dân.
- Cả nước đã có trên 7.500.000 hội viên (chiếm 8,52% dân số).
- Mỗi năm đã vận động được trên 10.000.000 người lớn học tập thường xuyên tại Trung tâm học tập cộng đồng.
- Các chi hội khuyến học trong thôn bản, tổ dân phố, cơ quan, trường học... phát triển nhanh (Đến năm 2010, cả nước đã có trên 200.000 chi hội khuyến học).
IV. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tư của Hội Khuyến học Việt Nam (nhiệm kỳ 2/2010 – 9/2015)
Ngày tổ chức Đại hội: 29/9/2010.
Địa điểm tổ chức Đại hội: Hà Nội
Số lượng đại biểu được triệu tập: 467
Số tỉnh, thành có Hội khuyến học: 63
Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa IV: 115
Lãnh đạo Trung ương Hội:
Chủ tịch danh dự: Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch: Nguyễn Mạnh Cầm
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Phạm Tất Dong
Các phó chủ tịch:
- Nguyễn Mậu Bành
- Nguyễn Văn Hiệu
- Trần Xuân Nhĩ
- Trần Tình
- Phạm Thanh Phong
- Lương Ngọc Toản
- Trần Quang Quý
Đại hội đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.
1. Những hoạt động và sự kiện lớn trong nhiệm kỳ IV
- 22/6/2010: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 927/QĐ-TTg thành lậ/p ban Chỉ đạo Quốc gia xây dựng xã hội học tập./
- 01/11/2010: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 68/QĐ-TTg, trong đó Hội Khuyến học Việt Nam được xếp vào danh sách những hội có tính đặc thù.
- 01/6/2011: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 30/QĐ-TTg, quy định chế độ thù lao đối với những người đã về hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các cấp hội có tính đặc thù.
- 22/12/2011: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định /QĐ-TTg về “Bảo đảm hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với Hội có tính chất đặc thù.
- 09/1/2013: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 89/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020”.
- 09/10/2013: Đại hội toàn quốc biểu dương các gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học và cộng đồng khuyến học tiêu biểu.
- 4/11/2013: Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- 20/2/2014: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 281/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”.
- 12/12/2014: Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Thông tư 14/2014/TT-BGDĐT về tiêu chí đánh giá danh hiệu Cộng đồng học tập cấp xã.
-1/7/2015: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 971/QĐ-TTg, sửa đổi Quyết định 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn”.
- 27/11/2015: Thủ tướng ban hành Chỉ thị 16/CT-TTg về tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0.
2. Những thành quả lớn của Hội giai đoạn 2011 – 2015
- Bắt đầu từ năm 2010, Quỹ khuyến học trong toàn quốc đã đạt số dư trên 1.000.000.000 đồng/năm. Riêng năm 2010, số tiền quỹ trung bình tính trên đầu người dân là 11.367 đồng, do đó, Nghị quyết Đại hội IV của Hội đã đặt mức đạt số tiền quỹ trên đầu người dân là 20.000 đồng vào năm 2015.
- Đại hội toàn quốc biểu dương các gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học và cộng đồng khuyến học tiêu biểu đã có sức động viên rất lớn nhân dân trên địa bàn hành chính cấp xã thi đua xây dựng các mô hình hiếu học và khuyến học, tạo tâm thế thi đua chuyển các mô hình đó sang những mô hình hcoj tập theo Quyết định 281/QĐ-TTg.
- Cán bộ, hội viên Hội khuyến học đã nhanh chóng bắt tay triển khai Quyết định 89/QĐ-TTg, đặc biệt là triển khai thí điểm các mô hình học tập theo Quyết định 281/QĐ-TTg. Sự thành công của đợt thí điểm đã tạo thuận lợi to lớn cho việc xây dựng, phát triển các mô hình gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập và đơn vị học tập. Tổ chức UNESCO đã đánh giá việc xây dựng các mô hình này là cách làm độc đáo trong huy động nhân dân học tập suốt đời.
V. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm của Hội Khuyến học Việt Nam
Ngày tổ chức Đại hội: 22/9/2016
Địa điểm tổ chức Đại hội: Hà Nội
Số lượng đại biểu được triệu tập:
Số hội viên trong toàn quốc:
Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa IV:
Lãnh đạo Trung ương Hội:
Chủ tịch danh dự: Nguyễn Mạnh Cầm
Chủ tịch: Nguyễn Thị Doan
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký: Phạm Tất Dong
Các phó chủ tịch:
- Phạm Thị Hòe
- Phạm Hoàng Be
- Nguyễn Trọng Điều
- Trương Thị Hiền
Các phó chủ tịch kiêm nhiệm:
- Phạm Thanh Phong
- Trần Luyến
- Trần Đình Liễn
- Quách Thế Tản
- Phạm Mạnh Hùng (Đến giữa kỳ Đại hội thì đồng chí Nguyễn Hữu Độ thay thế).
1. Những hoạt động và sự kiện lớn trong nhiệm kỳ Đại hội V
- 23/5/2017: Hội nghị “Phát triển khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong các trường đại học, cao đẳng” (Đại học Thương Mại)
- 18/7/2017: Hội thảo “Học tập của người lớn – Thực trạng và giải pháp” (Khách sạn La Thành).
- 16/10/2018: Hội thảo “Trường Đại học với việc học tập suốt đời của người lớn” (Đại học Thái Nguyên).
- 30/10/2018: Hội thảo “Trường Đại học với việc học tập suốt đời của người lớn” (Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh).
- 10/5/2019: Ban Bí thư ra Kết luận 49-KL/TW về tiếp tục Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị.
- 04/6/2019: Hội thảo “Trường Đại học với việc xây dựng tài nguyên giáo dục mở đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người lớn” (Trường Đại học Mở Hà Nội).
- 23/8/2019: Hội thảo “Trường Đại học với việc xây dựng tài nguyên giáo dục mở, đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời của người lớn” (Trường Đại học Tôn Đức Thắng, TP. Hồ Chí Minh).
- 27/9/2019: Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- 08/4/2020: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 489/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch triển khai Kết luận 49-KL/TW của Ban Bí thư.
- 3/6/2020: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia.
- 24/7/2020: Hội thảo “Trường Đại học với việc xây dựng và triển khai mô hình công dân học tập, tiếp cận với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Đại học VinUni).
- 30/11/2020: Hội nghị tổng kết 7 năm thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg (2014-2020).
- 01/12/2020: Đại hội toàn quốc biểu dương các mô hình học tập tiêu biểu giai đoạn 2014 – 2020.
- 25/5/2021: Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 14/CT-TTg về đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2030.
2. Những thành quả lớn của Hội giai đoạn 2016 – 2020
- Thành quả lớn nhất mà Hội có được là các cấp hội đã có đóng góp tích cực trong tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 11-CT/TW của Bộ Chính trị. Nhờ vậy mà Ban Bí thư đã có Kết luận 49-KL/TW, trong đó, có 11 vấn đề mới trong công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập cho giai đoạn 2021 – 2030. Đây là những nội dung có tính chiến lược cho việc triển khai những Đề án xây dựng xã hội học tập mà Hội sẽ tiếp tục thực hiện theo ý kiến của Ban Bí thư.
- Trong Quyết định 489/QĐ-TTg và Chỉ thị 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, vấn đề học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị và vấn đề công dân học tập mà Hội sẽ đảm nhiệm đều là những nhiệm vụ chính trị quan trọng, sự thành công của hai công việc này có ý nghĩa lớn đến sự phát triển con người và phương thức học tập suốt đời trong quốc gia chuyển đổi số. Hai văn kiện nói trên là động lực to lớn đối với những hoạt động của Hội trong giai đoạn đất nước tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Những hội thảo khoa học lớn mà Hội chủ động tổ chức, đồng chủ trì với Bộ Giáo dục và Đào tạo không chỉ có tác dụng nâng cao trình độ trí tuệ, mà còn là tạo thêm uy tín của Hội trong xã hội, trước hết là trong các trường đại học, hệ thống giáo dục thường xuyên. Thành công của Hội giai đoạn này là đã bước đầu thu hút được các trường đại học vào hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
Nội dung của các Hội thảo đều có tính chất đón đầu sự phát triển giáo dục và đào tạo của đất nước, làm vững chắc thêm về phương diện khoa học, pháp lý, sư phạm của nền tảng xây dựng hệ thống học tập tiếp tục của người lớn, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển các công nghệ học tập hiện đại.
- Sự phối hợp, gắn kết với một số Bộ, Ban, ngành, đoàn thể và doanh nghiệp của Hội giai đoạn 2016 – 2021 thông qua các văn bản ký kết hợp tác đã làm tăng lên đáng kể lực lượng làm khuyến học, khuyến tài, phát triển các tổ chức Hội vào các cơ quan, trường học, đơn vị và doanh nghiệp. Đây là phương thức xã hội hóa rất hiệu quả đối với việc triển khai các Đề án mà Hội chủ trì, vị thế của Hội vì thế cũng được nâng lên.
- Hội rất quan tâm và đã bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ việc học tập suốt đời của người lớn dưới nhiều hình thức. Những học bổng khuyến học và phần thưởng cho người lớn tự học thành tài là sự quan tâm thúc đẩy việc học tập của người lớn trong các lĩnh vực hoạt động của họ.
- Sự thành công trong thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg đánh dấu sự lớn mạnh của Hội, sự nhận thức về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của nhân dân được nâng lên rõ rệt.
- Việc học tập tư tưởng tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thông qua các cuộc hội thảo và phát học bổng “Học không bao giờ cùng”.
PHẦN III
ĐẨY MẠNH CÁC HOẠT ĐỘNG KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI VÌ MỤC TIÊU
XÂY DỰNG CẢ NƯỚC TRỞ THÀNH MỘT XÃ HỘI HỌC TẬP
I. Đẩy nhanh việc phát triển các tổ chức Hội và hội viên trên địa bàn hành chính các cấp
1. Phát triển nhanh các tổ chức Hội trên địa bàn hành chính các cấp
Vào thời điểm tổ chức Đại hội thành lập Hội (1996), trong cả nước chỉ có 21 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có sự tập hợp những người nhiệt tình với công tác khuyến học, hình thành Hội khuyến học của tỉnh, thành phố. Đến đầu năm 2000, con số đó lên tới 28.
Ngày 14-15/10/1999, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội lần thứ hai (khóa II) đã ra Nghị quyết phát triển nhanh các tổ chức Hội không chỉ trên địa bàn hành chính cấp tỉnh, mà cả cấp huyện và cấp xã. Chủ trương này đã được toàn Hội triển khai hết sức tích cực. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa chiến lược của chủ trương này, các cấp Hội đã nhanh chóng và quyết tâm xây dựng và phát triển các tổ chức Hội ở 3 cấp tỉnh, huyện và xã.
Khi thành lập Hội, cả nước có 21 tỉnh, thành phố có tổ chức Hội. Như vậy, 33,33% cấp tỉnh có Hội, còn ở cấp huyện và xã chưa có tổ chức của Hội.
Năm 1999 (cuối nhiệm kỳ I, 1996 - 1999), cả nước có 28 tỉnh, thành Hội, đạt tỷ lệ 44,44% cấp tỉnh có tổ chức Hội.
Năm 2005 (cuối nhiệm kỳ II, 2000 - 2005), tổ chức Hội đạt 100% ở cấp tỉnh, 99,20% ở cấp huyện và 94,00% ở cấp xã.
Năm 2010 (cuối nhiệm kỳ III, 2006 - 2010), tổ chức Hội hầu như phủ kín cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã. Đến thời điểm này, nhiệm vụ phát triển các tổ chức Hội chuyển trọng tâm sang xây dựng và phát triển các chi hội khuyến học, ban khuyến học trong các thôn bản, tổ dân phố, dòng họ, nhà chùa, nhà thờ, các doanh nghiệp, trường học v.v…
Chi hội khuyến học hoạt động theo nhiệm kỳ, là tổ chức cơ sở nhỏ nhất trực thuộc Hội khuyến học cơ sở (xã, phường, thị trấn).
Ban Khuyến học là một tổ chức có chức năng khuyến học do cơ quan chủ quản chỉ định, hoạt động không theo nhiệm kỳ.
2. Phát triển hội viên gắn với sự phát triển chi hội khuyến học và Ban khuyến học
Sự phát triển hội viên và chi hội khuyến học và Ban khuyến học được phản ánh trong bảng thống kê dưới đây:
Năm | Dân số | Hội viên | Chi hội khuyến học | Ban khuyến học | |
Tổng sô | % | ||||
2005 | 83.830.000 | 3.500.000 | 4,17 | 124.209 | 142.009 |
2010 | 87.970.000 | 7.500.000 | 5,25 | 165.994 | 123.330 |
2015 | 92.680.000 | 14.557.471 | 15,70 | 141.805 | 116.092 |
2016 | 93.640.000 | 15.097.252 | 16,12 | 144.005 | 103.253 |
2017 | 94.600.000 | 16.704.319 | 17,65 | 158.497 | 114.291 |
2018 | 95.540.000 | 18.505.407 | 19,36 | 167.815 | 126.923 |
2019 | 96.460.000 | 20.263.000 | 21,00 | 143.814 | 128.626 |
2020 | 97.580.000 | 21.363.739 | 21,89 | 137.408 | 121.110 |
Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội lần thứ III quyết nghị đến năm 2015, tỷ lệ hội viên so với dân số phải đạt 10%, trong thực tế đã đạt 15,70%.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Hội lần thứ IV quyết nghị đến năm 2020, tỷ lệ hội viên dân so với dân số phải đạt 20%, trên thực tế đã đạt 21,89%.
Sau 25 năm hoạt động, số hội viên tăng lên 21.363.739 người, bình quân mỗi năm tăng 850.549 hội viên/năm. Tốc độ tăng này là quá nhanh và bền vững.
Chủ trương phủ kín tổ chức Hội trên địa bàn dân cư trong cả nước và tăng nhanh số hội viên là hoàn toàn đúng đắn và thực tế đã cho thấy tác dụng tích cực của công việc này như sau:
- Đến năm 2020, về cơ bản, tổ chức Hội đã phủ kín 100% địa bàn cấp tỉnh và huyện trên 98,00% cấp xã (trừ một số xã quá khó khăn ở vùng sâu, vùng xa. Cả nước có trên 98.000 thôn bản, tổ dân phố, trung bình mỗi thôn bản, tổ dân phố có gần 1,5 chi hội khuyến học).
- Từ năm 2016 đến năm 2020, số hội viên tăng thêm 5.266.487 người, bình quân mỗi năm tăng 1.053.297 người.
- Có trên 50% các trường phổ thông và 61,73% các trường cao đẳng và đại học đã thành lập tổ chức khuyến học tính đến tháng 12/2020.
- Số hội viên càng đông thì số lượng người học tập thường xuyên càng nhiều. Cuộc vận động nhân dân học tập sẽ thuận lợi bởi Hội có hàng chục triệu hội viên tích cực tham gia các hình thức, các phương thức học tập, từ đó việc học tập sẽ lan tỏa sang những người dân không phải là hội viên.
- Do các tổ chức Hội phủ kín địa bàn hành chính các cấp và đông đảo các cộng đồng dân cư nên mỗi chủ trương khuyến học sẽ được thâm nhập vào cuộc sống của người dân ở cơ sở một cách nhanh chóng.
- Số lượng các tổ chức Hội càng nhiều, số lượng hội viên càng lớn, nếu được tổ chức chặt chẽ thì đó là một trong những nhân tố để Hội Khuyến học Việt Nam làm tốt vai trò nòng cốt của mình trong sự phối hợp với các lực lượng xã hội đẩy mạnh các phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
- Mấy năm cuối của thập kỷ 20 trong thế kỷ này, sự tham gia của đông đảo đảng viên vào các tổ chức khuyến học, sự kết nạp hội viên trong tầng lớp trí thức, nhất là trong các trường học các cấp phổ thông các cấp và đại học đã, đang và sẽ làm tăng chất lượng hoạt động của Hội.
II. Phát triển mạnh các loại hình quỹ khuyến học
1. Hoạt động của Quỹ Khuyến học Việt Nam
Quỹ Khuyến học Việt Nam mở đầu những hoạt động bằng khoản tiền 1 tỷ đồng do Ban Bí thư hỗ trợ, sau đó quỹ nhận được sự đóng góp của một số cơ quan và các nhà hảo tâm. Đến năm 1999, số tiền trong Quỹ không quá 1,5 tỷ đồng.
Trong giai đoạn này, giáo sư Võ Tòng Xuân cùng Đại sứ Bỉ đã giúp Hội có Quỹ khuyến học “Vì nông dân tương lai”, nhưng hoạt động của Quỹ chỉ thực hiện trong một thời gian ngắn.
Năm 2008, Học bổng “Vòng tay đồng đội” được hình thành dưới hình thức Quỹ dành cho con em gia đình quân nhân.
Từ năm 2010, có một số cơ quan đã hỗ trợ tài chính cho Quỹ như Tập đoàn Bưu chính viễn thông VNPT, Trung tâm Thông tin di động Vietnammobile, Công ty TNHH Grobest Industrial VN, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank), Ngân hàng Bảo Việt, Tổng Công ty Bảo hiểm (PTI), Tổ chức Phật giáo Nhật bản Shinnyo-en…
Số tiền do các tổ chức nói trên qua các năm như sau:
Năm 2011: 3.850.230.000 đồng.
Năm 2012: 3.739.862.500 đồng.
Năm 2013: 1.693.733.750 đồng.
Năm 2014: 2.480.722.600 đồng.
Năm 2015: 2.499.997.500 đồng.
Từ năm 2010, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam đã tổ chức nhiều sự kiện khuyến học, thực chất là cuộc vận động học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, trẻ em khuyết tật và phần thưởng cho học sinh, sinh viên có thành tích cao trong học tập.
Những chương trình gây ấn tượng tốt trong xã hội gồm:
- Chương trình giao lưu nghệ thuật “Chắp cánh ước mơ, vượt sông hồ tìm chữ”. Chương trình được tổ chức liên tiếp trong 5 năm (2011, 2012, 2013, 2014, 2015) do Trung ương Hội chủ trì, phối hợp với Công ty cổ phần Truyền thông và Phát thanh báo chí Việt Nam, Nhà Xuất bản Dân trí, Đài Truyền hình Việt Nam.
- Chương trình “Ước mơ Việt Nam”, do Tập đoàn Điện lực Quốc gia Việt Nam tài trợ, thực hiện trong 2 năm (2013, 2014).
- Chương trình “Tiếp sức niềm tin” do Công ty TNHH Nghệ thuật giải trí Thiên Phúc (TP. Hồ Chí Minh) và Công ty Dịch vụ Kiểm toán, Thuế và Tư vấn quốc tế (Thụy Sĩ), viết tắt KPMG Quốc tế.
- Chương trình Hội diễn văn nghệ học sinh khuyết tật toàn quốc theo chủ đề “Nghị lực và tình thương”, thực hiện trong 2 năm (2013, 2014) do Viện nghiên cứu xây dựng và phát triển xã hội học tập chủ trì.
- Chương tình “Vì em hiếu học”, do Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel hỗ trợ 10 năm liên tục (từ năm 2014 đến 2024).
- Ngày 24/2/2014, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam ban hành Quyết định 54/QĐ-KHVN thành lập Ban vận động tài trợ cho hoạt động khuyến học. Kết quả hỗ trợ 63 Hội Khuyến học địa phương và Văn phòng Trung ương Hội 20.400.000.000đ, và 1.500.000.000 đồng cho công tác an sinh của 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên.
Sang giai đoạn 2016 - 2020, Quỹ Khuyến học Việt Nam đã đẩy mạnh sự hỗ trợ về tài chính và về hiện vật đối với những địa phương gặp khó khăn, thể hiện ở những công việc sau:
a. Vận động các cá nhân, các tổ chức và doanh nghiệp tài trợ khuyến học:
- Công ty TNHH Grobest Land Found và Công ty TNHH Grobest Việt Nam hỗ trợ liên tục các năm 2016, 2017, 2018 mỗi năm 3.000.000.000đ, riêng năm 2019 là 3.500.210.526đ.
- Ban Tổ chức giải Golf “Swing for the kids”: 400 – 500 triệu đồng/năm;
- Tổ chức Shinnyo – en (Nhật Bản): 400 – 500 triệu đồng/năm;
- Tổng Công ty May 10: 300 – 400 triệu đồng/năm;
- Tổ chức thiện nguyện VNHELP (Mỹ): 400 – 500 triệu đồng/năm;
Những cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức tài trợ một lần:
- Tổng Công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật Dầu khí VN: 1 tỷ đồng;
- Ông Lê Văn Kiểm, Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Phát triển Golf Long Thành: 500 triệu đồng;
- Ông Đào Hồng Tuyển, Chủ tịch Tập đoàn Tuần Châu (Công ty TNHH Âu Lạc, Quảng Ninh)” 500 triệu đồng;
- Thượng tọa Thích Quảng Tùng (Chùa Dư Hàng, Hải Dương): 500 triệu đồng;
- Tổng Công ty cổ phần Đồng Tiến (Đồng Nai): 500 triệu đồng;
- Tổng Công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội: 500 triệu đồng;
- Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Sunlife: 189 triệu đồng;
- Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước: 200 triệu đồng;
- Công ty cổ phần Tập đoàn Thái Bình Dương: 700 triệu đồng;
- Công ty cổ phần ứng dụng KHCN MITEC: 200 triệu đồng;
- Công ty TNHH Tùng Lộc: 355 triệu đồng.
Ngoài ra, còn có nhiều đơn vị và cá nhân tài trợ số tiền từ 40 – 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Ngoài phần ủng hộ về tài chính, Quỹ còn nhận được những phần tài trợ bằng hiện vật, như máy tính, xe đạp, quần áo. Hiệp hội Văn hóa Hàn – Việt đã hỗ trợ học sinh Việt Nam 19.632 đôi giày vải nhãn hiệu TOMS, trị giá 33 tỷ đồng.
b. Những chương trình hoạt động của Quỹ giai đoạn 2016 – 2020
- Chương trình “Vòng tay đồng đội”;
- Chương trình học bổng “Giải Golf vì học sinh, sinh viên vượt khó, học giỏi”.
- Chương trình học bổng “Shinnyo – en vì học sinh, sinh viên vượt khó, học giỏi”.
- Chương trình học bổng “Quỹ Chung – Soo vì sinh viên vượt khó, học giỏi”;
- Chương trình học bổng Nguyễn Trường Tộ.
- Chương trình học bổng “Thủy sản vì trẻ em vùng ven biển”.
- Chương trình tặng vở, máy tính, bàn ghế học sinh cho học sinh, sinh viên nghèo vùng sâu, vùng xa.
- Chương trình xây cầu Khuyến học và Dân trí.
c. Kết quả hoạt động vận động và chi hỗ trợ học bổng
Năm | Tiền hỗ trợ từ nhà tài trợ đến trực tiếp đối tượng thụ hưởng | Tiền trích từ Quỹ khuyến học làm học bổng, phần thưởng và hỗ trợ người lớn học tập |
2016 | 1.490.620.000 | 1.678.791.000 |
2017 | 7.855.230.680 | 7.368.772.500 |
2018 | 9.652.166.663 | 6.276.314.377 |
2019 | 4.576.572.500 | 7.989.590.000 |
2020 | 24.234.696.626 | 4.168.491.750 |
Cộng | 47.809.297.469 | 26.978.986.627 |
d. Tổng hợp kết quả hỗ trợ
Học bổng, phần thưởng | 29.309 suất | 25.719.228.500 đồng |
Xây cầu Dân trí | 05 cầu | 1.925.001.877 đồng |
Xây phòng học chức năng | 10 phòng | 2.119.460.000 đồng |
Vở học sinh | 305.000 quyển | 1.025.000.000 đồng |
Thiết bị học tập | 325 bộ | 2.762.702.000 đồng |
Giày học sinh | 19.632 đôi | 33.000.000.000 đồng |
Máy tính | 10 bộ |
|
Áo ấm | 200 chiếc |
|
Hỗ trợ chống dịch Covid-19 |
| 1.300.000.000 đồng |
Hỗ trợ vùng bão lụt, gia đình các chiến sĩ ở Rào Trăng |
| 1.114.000.000 đồng |
Trong giai đoạn 2016 – 2020, Quỹ Khuyến học Việt Nam đã đón nhận 01 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 01 bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 01 bằng khen của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 01 bằng khen của Hội Khuyến học Việt Nam.
2. Quỹ khuyến học, khuyến tài địa phương
Bắt đầu từ năm 2010, tổng số tiền quỹ vận động được đã vượt ngưỡng 1.000.000.000.000 đồng và liên tục phát triển trong 10 năm liền, nhất là trong giai đoạn 2016 -2020. Tình hình đó được phản ánh trong bảng thống kê dưới đây:
Năm | Số dư trong tổng số quỹ khuyến học trong cả nước (tính ở tháng cuối năm) | Mức tiền quỹ trung bình tính theo đầu người dân |
2011 | 1.253.881.700.000 đồng | 14.274 đồng |
2012 | 1.871.338.933.000 đồng | 21.078 đồng |
2013 | 1.466.708.000.000 đồng | 16.296 đồng |
2014 | 1.917.500.000.000 đồng | 21.187 đồng |
2015 | 2.118.024.000.000 đồng | 23.403 đồng |
2016 | 2.633.786.000.000 đồng | 32.478 đồng |
2017 | 3.472.874.570.000 đồng | 37.075 đồng |
2018 | 3.833.128.000.000 đồng | 41.296 đồng |
2019 | 4.072.947.000.000 đồng | 42.635 đồng |
2020 | 2.914.878.000.000 đồng | 30.509 đồng |
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội ra Nghị quyết đạt mức tiền của Quỹ Hội tính trên đàu dân là 20.000đ/người (2015) và 30.000đ/người (2020). Trên thực tế, mức quy định đó đã được thực hiện vượt mức: 23.403 đồng vào năm 2015 và 30.509 vào năm 2020. Số dư trong tổng số Quỹ năm 2020 tuy có giảm nhiều so với năm 2019 do đại dịch Covid-19 gây nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Tuy vậy, các tổ chức, doanh nghiệp và nhà hảo tâm vẫn có sự hỗ trợ tích cực cho các loại hình Quỹ khuyến học ở địa phương.
Trong 25 năm qua, các Hội khuyến học địa phương đã phát huy nhiều sáng kiến để có nguồn tiền giúp vào việc làm học bổng, làm phần thưởng và cải thiện đời sống học sinh, sinh viên. Nhiều phong trào vận động nhân dân hỗ trợ khuyến học, khuyến tài đã mang lại những kết quả khả quan:
- Những năm 1996 - 1999, phong trào nhân dân hiến đất để xây trường học đã giúp cho nhiều nơi xây trường mới hoặc mở rộng diện tích của trường học. Hàng trăm ha đất đã được nhân dân trao cho nhà trường để ngành giáo dục có điều kiện xây thêm trường, lớp.
- Phong trào nuôi heo đất, xuất phát từ sáng kiến của Hội Khuyến học thành phố Hồ Chí Minh. Phong trào nay lan tỏa đến nhiều tỉnh và thành phố. Trước ngày khai giảng năm học, Hội khuyến học địa phương làm lễ mổ heo đất. Tại nhiều tỉnh, thành phố, mỗi lần mổ heo đất, tổng số tiền thu được hàng chục tỷ đồng (Riêng thành phố Hồ Chí Minh, có năm mổ heo đất được tới gần 70 tỷ đồng).
Phong trào nuôi heo đất dã phát triển đến thời điểm hiện tại. Nhiều nơi đã có sáng kiến nuôi heo nhựa hoặc làm ống tre khuyến học để giảm tiền mua heo đất, vì heo đất chỉ dùng được một lần. Trong khi đó, heo nhựa dùng được nhiều năm, còn ống tre rẻ hơn nhiều so với giá heo đất.
- Phong trào hỗ trợ học sinh, sinh viên theo công thức 1-1: Một người hỗ trợ một học sinh trong năm học về các khoản tiền mua sách vở, đồ dùng học tập v.v… Phong tào này được mở rộng và nhiều nơi công thức 1-1 trở thành 1-n (n là số học sinh, sinh viên được một người hỗ trợ. Nhiều trường hợp n>10).
- Phong trào vận động, quyên góp từ các doanh nghiệp và các nhà hảo tâm những hiện vật cần cho học sinh, sinh viên như xe đạp, xe lăn, tủ sách, sữa học đường, máy tính bỏ túi, giấy và vở viết v.v…
- Phong trào sản xuất gây quỹ khuyến học như cây chuối khuyến học, con gà khuyến học, ao cá khuyến học v.v…
- Phong trào vận động cán bộ, công chức, viên chức góp quỹ khuyến học như góp một ngày lương cho quỹ theo tháng hay theo năm.
Nhân dân địa phương rất hoan nghênh sự đóng góp, giúp đỡ của Quỹ khuyến học cho học sinh nghèo, cho việc động viên học sinh, sinh viên vươn lên đạt thành tích cao trong học tập và hỗ trợ người lớn có hoàn cảnh khó khăn để theo học các chương trình giáo dục thường xuyên.
III. Xây dựng các mô hình học tập trên địa bàn hành chính cấp xã
Tháng 6/2000, Ban Khoa giáo Trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Ngoại giao đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia về “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”. Nội dung cơ bản được đưa thảo luận là vấn đề tiếp cận và tham gia vào xu thế phát triển kinh tế tri thức như thế nào đối với Việt Nam khi mà đất nước chưa hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Cái logic tất yếu là muốn có được kinh tế tri thức, điều kiện hàng đầu là phải xây dựng xã hội học tập.
Trong bối cảnh này, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội lần thứ 3 (khóa II) ngày 20/1/2001, các đại biểu đã nhất trí thông qua Đề án “Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở”. Để vận động người dân học tập thường xuyên, một số Hội Khuyến học địa phương đã đề xuất mô hình “Gia đình hiếu học” là môi trường nuôi dưỡng người dân tự nguyện, tự giác học tập trên cơ sở phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc.
Trong thực tế triển khai mô hình “Gia đình hiếu học”, cần phải có cộng đồng huyết thống bao trùm lên mô hình “Gia đình hiếu học” để thúc đẩy việc tổ chức gia đình học tập được bền vững. Từ đó mới nảy sinh chủ trương xây dựng mô hình “Dòng họ hiếu học”. Tuy nhiên, trên địa bàn hành chính cấp xã còn có các cộng đồng dân cư và nhiều tổ chức khác mà sự hỗ trợ, khuyến khích của họ đối với việc phát triển gia đình hiếu học và dòng họ hiếu học. Vì thế, cần phải thêm một mô hình khác, đó là mô hình “Cộng đồng khuyến học”.
Trải qua hơn 10 năm hoạt động, Hội khuyến học mới xác định được 3 mô hình học tập đầu tiên cần được xây dựng ở cấp xã là Gia đình hiếu học, Dòng họ hiếu học và Cộng đồng khuyến học.
Kết quả xây dựng các mô hình trên như sau:
Năm | Gia đình hiếu học | Dòng họ hiếu học | Cộng đồng khuyến học |
2011 | 4.321.856 | 33.913 | 37.801 |
2012 | 5.045.662 | 46.940 | 38.497 |
2013 | 5.252.969 | 47.269 | 34.858 |
2014 | 5.658.055 | 52.003 | 40.637 |
2015 | 8.430.234 | 65.307 | 70.380 |
Quyết định 89/QĐ-TTg đã thay đổi danh hiệu các gia đình, dòng họ và cộng đồng có thành tích cao trong học tập thường xuyên bằng các danh hiệu “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập” cho phù hợp với xu thế phát triển xã hội học tập trên thế giới. Đây là những danh hiệu do Nhà nước quy định, với những tiêu chí cụ thể, do vậy, việc đánh giá, phong tặng những danh hiệu này thuộc thẩm quyền của chính quyền các cấp.
Ngày 20/2/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 281/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ và cộng đồng đến năm 2020”. Hội Khuyến học Việt Nam có nhiệm vụ triển khai Đề án này (gọi là Đề án 281) theo 2 giai đoạn sau:
1. Giai đoạn thí điểm (2014 - 2015)
Trong giai đoạn này, Hội khuyến học có nhiệm vụ:
a/ Xây dựng những Bộ tiêu chí đánh giá, công nhận 4 mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập”. Để có được những Bộ tiêu chí, Hội phải tiến hành hàng loạt công việc sau:
- Nghiên cứu các tiêu chí và các chỉ số đánh giá cho từng tiêu chí. Các chuyên gia của Hội cùng với nhiều nhà khoa học, nhiều nhà quản lý giáo dục, giáo viên và cán bộ phụ trách các cấp Hội khuyến học sưu tầm tài liệu tham khảo, tổ chức hàng chục Hội thảo khoa học, lấy ý kiến của những Bộ, ngành liên quan để xác định từng bộ tiêu chí.
- Đưa những Bộ tiêu chí đã được sự đồng thuận của nhiều bên tham gia vào thử nghiệm.
Trung ương Hội đã hướng dẫn 63 Hội khuyến học địa phương chọn 237 quận/huyện/thị xã, 2067 xã/phường/thị trấn, 8.457 thôn bản/tổ dân phố, 59.315 dòng họ hiếu học và 657.789 gia đình hiếu học triển khai thí điểm các Bộ tiêu chí.
- Công việc thí điểm được triển khai từ tháng 10/2014 đến tháng 10/2015 thì sơ kết, báo cáo Chính phủ kết quả thí điểm.
- Ngày 27/11/2015, Thủ tướng Chính phủ chấp nhận và cho phép sử dụng 4 Bộ tiêu chí đánh giá kết quả công nhận danh hiệu “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập” và “Đơn vị học tập” tại Thông báo số 9961/VPCP-KGVX.
2. Giai đoạn triển khai đại trà (2016 – 2020)
- Ngày 01/12/2015, Hội Khuyến học Việt Nam ban hành Quyết định 448/QĐ-KHVN về những Bộ tiêu chí đánh giá các mô hình học tập, hướng dẫn chi tiết cách tổ chức triển khai Đề án 281, cách đánh giá công nhận và việc lập hồ sơ cho từng mô hình để trình UBND các cấp.
- Ngày 15/12/2015, Trung ương Hội tổ chức Hội nghị triển khai đại trà các mô hình học tập theo Quyết định 448/QĐ-TTg tại thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).
Giai đoạn triển khai đại trà Đề án 281 được bắt đầu từ tháng 1/2016 và kết thúc vào tháng 12/2020.
Các Hội khuyến học địa phương đã tổng kết 7 năm thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg trước tháng 10/2020.
Ngày 30/11/2020, Trung ương Hội đã tổ chức Hội nghị Tổng kết 7 năm thực hiện Quyết định 281/QĐ-TTg với nội dung trong Báo cáo số 265/BC-KHVN, ngày 05/11/2020.
Kết quả thực hiện Đề án 281 như sau:
Năm | Gia đình học tập | Dòng họ học tập | Cộng đồng học tập | Đơn vị học tập | ||||
Số đạt danh hiệu | % | Số đạt danh hiệu | % | Số đạt danh hiệu | % | Số đạt danh hiệu | % | |
2016 | 5.711.622 | 36,01 | 37.288 | 58,80 | 40.464 | 49,81 | 27.085 | 57,24 |
2017 | 9.891.109 | 48,07 | 59.315 | 50,53 | 213.649 | 69,43 | 37.635 | 70,47 |
2018 | 12.856.982 | 57,03 | 66.214 | 52,87 | 83.817 | 70,79 | 43.369 | 75,22 |
2019 | 15.592.341 | 68,09 | 83.929 | 65,48 | 96.648 | 79,19 | 48.702 | 89,39 |
2020 | 16.635.366 | 72,11 | 84.785 | 66,51 | 89.048 | 65,38 | 48.641 | 85,73 |
Hội Khuyến học Việt Nam đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu xây dựng cả 4 mô hình học tập:
(ĐVT: %)
Năm | Gia đình học tập | Dòng họ học tập | Cộng đồng học tập | Đơn vị học tập | ||||
Mức quy định | Kết quả thực hiện | Mức quy định | Kết quả thực hiện | Mức quy định | Kết quả thực hiện | Mức quy định | Kết quả thực hiện | |
2016 | 20 | 36,01 | 15 | 58,80 | 20 | 49,81 | 15 | 57,24 |
2017 | 30 | 48,07 | 20 | 50,53 | 30 | 69,43 | 20 | 70,47 |
2018 | 45 | 57,03 | 30 | 52,87 | 40 | 70,79 | 30 | 75,22 |
2019 | 60 | 68,09 | 40 | 65,48 | 50 | 79,19 | 40 | 89,39 |
2020 | 70 | 72,11 | 50 | 66,51 | 60 | 65,38 | 50 | 85,73 |
Về gia đình học tập, đã vượt mức quy định 2,11%.
Về dòng họ học tập, đã vượt mức quy định 16,51%.
Về cộng đồng học tập, đã vượt mức quy định 5,38%.
Về đơn vị học tập, đã vượt mức quy định 35,73%
Việc thực hiện Đề án 281 không đơn thuần là việc triển khai một phong trào quần chúng, mà là một quá trình nghiên cứu khoa học. Từ khâu xây dựng các Bộ tiêu chí, thí điểm, triển khai đại trà xây dựng các mô hình học tập trên toàn bộ địa bàn cấp xã trong cả nước, Hội đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo khoa học, nhiều cuộc khảo sát, sơ kết, đánh giá từng giai đoạn triển khai.
Một trong những điểm nổi bật của quá trình xây dựng các mô hình học tập giai đoạn này là việc gắn hoạt động của trường đại học với việc mở ra các hình thức và phương thức học tập của người lớn, nhất là những phương thức học mọi lúc, mọi nơi, tạo tài nguyên giáo dục mở để có nhiều thuận lợi cho việc học tập suốt đời v.v... Hội rất quan tâm xây dựng tinh thần học tập của người dân trong các mô hình học tập theo gương “Học không bao giờ cùng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Để đánh giá hiệu quả, chất lượng của các mô hình học tập, Trung ương Hội đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của các mô hình, tổ chức hội thảo và ban hành Bộ tiêu chí này.
Những thắng lợi của việc thực hiện Đề án 281 được thể hiện ở kết quả Điều tra xã hội học về lợi ích, tác dụng và điều kiện xây dựng các mô hình học tập do Trung ương Hội và nhiều Hội khuyến học địa phương tiến hành dựa trên bộ tiêu chí trên.
Về lợi ích của việc học
-92,80% người lao động cho biết, nhờ được học tập mà họ có thêm nghề hoặc việc làm của họ ổn định.
- 93,70% các hộ gia đình đều thừa nhận nhờ học tập mà họ thoát nghèo, nhiều gia đình có thu nhập cao hơn trước nhiều, có một số hộ trở nên giàu có.
- 69,20% hộ gia đình cho biết, họ đã làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa ở địa phương, được bao tiêu đầu ra, góp phần tạo ra những giá trị mới. Sau nhiều khóa học, một số hộ đã liên kết với nhau để tạo nên mô hình sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ mới.
Về tác dụng học tập
- 98,60% người dân cho rằng, trong phong trào xây dựng các mô hình học tập, nhân dân đoàn kết, đồng thuận trước chủ trương xây dựng xã hội học tập, trong thôn bản, tổ dân phố không có những mối bất hòa gây căng thẳng.
- 97,60% người được phỏng vấn cho rằng, việc xây dựng các mô hình học tập trong Đề án 281 đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng nông thôn mới, khối phố văn minh.
- 99,00% người dân cho rằng, địa phương của họ rất trật tự, an toàn, an ninh chính trị được bảo đảm.
Về sự quan tâm của cấp ủy và chính quyền địa phương
- 98,00% nhân dân địa phương xác nhận cấp ủy và chính quyền có nghị quyết, có kế hoạch triển khai Đề án 281.
- 88,00% người dân cho biết, lãnh đạo địa phương có hỗ trợ kinh phí để nhân dân học tập.
- Nhân dân thừa nhận các lực lượng xã hội tham gia thúc đẩy cuộc vận động xây dựng các mô hình: Hội Khuyến học (82,0%), trường học (80,0%), Mặt trận Tổ quốc (65,0%), Đoàn Thanh niên (60,0%), Hội Phụ nữ (55,0%), Hội Cựu Giáo chức (55,0%), Hội Cựu Chiến binh (53,0%), Hội Nông dân (47,0%), doanh nghiệp (35,0%).
Về sự hài lòng của nhân dân
- 90,4% hài lòng về sự quan tâm của lãnh đạo địa phương.
- 91,9% hài lòng về sự chung tay của các lực lượng xã hội.
- 91,1% hài lòng về sự hỗ trợ của Hội khuyến học.
- 84,3% hài lòng về việc tổ chức dạy học của Trung tâm học tập cộng đồng.
Từ kết quả điều tra này, Hội sẽ rút kinh nghiệm trong triển khai Dự án này trong nhiệm kỳ 2021 – 2025.
IV. Cuộc vận động người lớn tham gia học tại Trung tâm học tập cộng đồng và các cơ sở giáo dục không chính quy
Hội khuyến học có chức năng vận động người lớn tham gia học tập thường xuyên chủ yếu tại các Trung tâm học tập cộng đồng và các cơ sở giáo dục không chính quy khác như Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm ngoại ngữ - tin học.
Số học viên được vận động tham gia các hình thức học tập thường xuyên qua 10 năm, tính từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2019 – 2020 được phản ánh trong bảng thống kế dưới đây:
Năm học | Số người học | Các chương trình học | |||||
Xóa mù chữ | Bổ túc văn hóa | Tin học | Ngoại ngữ | Học nghề | Chuyên đề | ||
2010-2011 | 13.537.300 | 33.612 | 26.802 | - | - | 322.532 | 13.154.354 |
2011-2012 | 12.361.731 | 19.91 | 15.922 | - | - | 333.167 | 11.992.732 |
2012-2013 | 15.074.915 | 45.743 | 263.319 | 186.955 | 534.818 | 343.743 | 13.700.337 |
2013-2014 | 20.967.032 | 38.057 | 243.466 | 204.741 | 898.857 | 403.021 | 19.178.890 |
2014-2015 | 19.603.035 | 40.379 | 224.431 | 111.468 | 254.637 | 364.455 | 18.607.665 |
2015-2016 | 20.544.676 | 38.625 | 215.55 | 126.201 | 336.909 | 398.708 | 19.428.683 |
2016-2017 | 21.333.788 | 28.386 | 94.54 | 83.735 | 136.712 | 298.457 | 20.691.958 |
2017-2018 | 21.366339 | 32.267 | 220.65 | 96.111 | 159.337 | 314.159 | 19.103.815 |
2018-2019 | 22.739.220 | 26.694 | 244.385 | 138.064 | 423.808 | 276.269 | 21.630.000 |
2019-2020 | 13.316.087 | 44.852 | 7.832 | 17.994 | 234.898 | 327.911 | 12.682.600 |
(Nguồn: Vụ GDTX, Bộ GD và ĐT, 2020)
Từ bảng trên, ta có thể đưa ra mấy nhận xét sau:
- Giai đoạn 2016 – 2020 (giai đoạn triển khai đại trà Đề án 281, số người lớn tham gia học tập thường xuyên đông đảo hơn các giai đoạn trước).
- Năm học 2019 - 2020, do dịch Covid-19, số người đi học giảm đi rõ rệt.
- Cần gì học nấy (chọn chuyên đề để học) là nhu cầu lớn nhất của người lớn. Điều này còn cho thấy, nhu cầu học thường xuyên của người lao động rất đa dạng.
- Số người học tin học và ngoại ngữ chưa nhiều, hơn nữa trung tâm học tập cộng đồng không có thế mạnh trong việc dạy 2 chương trình này.
- Từ khi triển khai Quyết định 971/QĐ-TTg về việc dạy nghề cho lao động nông thôn đưa vào kế hoạch dạy học tại trung tâm học tập cộng đồng, số người tham gia chương trình dạy các nghề có thời gian đào tạo ngắn (trong vòng 3 tháng) khá ổn định.
- Việc dạy nghề theo Quyết định 971/QĐ-TTg tại trung tâm học tập cộng đồng đã đáp ứng yêu cầu của Quyết định 89/QĐ-TTg, làm cho mỗi công dân đều là những lao động có nghề, nhờ đó cải thiện được đời sống bản thân và gia đình, đóng góp nhiều cho xã hội.
- Được học thêm nghề, cơ cấu lao động nông thôn đã thay đổi nhanh theo hướng công nghiệp hóa, nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều mô hình kinh doanh, dịch vụ mới được hình thành, nhiều người đã có sự khởi nghiệp thành công.
Trong việc vận động người lớn tham gia học tập thường xuyên, Trung tâm học tập cộng đồng đóng một vai trò quan trọng. Vì vậy, sự phối hợp giữa Hội khuyến học với Bộ Giáo dục và Đào tạo thúc đẩy các địa phương thành lập các trung tâm trên địa bàn xã rất có hiệu quả. Bắt đầu từ năm 2015, hầu hết các đơn vị hành chính đã có trung tâm học tập cộng đồng, trừ những xã có hoàn cảnh rất khó khăn.
Sau năm 2020, chắc chắn Trung tâm học tập cộng đồng sẽ chuyển sang phương thức đào tạo mới cho phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số. Một khi cư dân có kỹ năng sử dụng thiết bị di động, nhất là điện thoại thông minh và tài nguyên giáo dục mở được số hóa thì số lượng học viên sẽ tăng nhanh. Khi đó, ngồi tại xã, mỗi công dân đều có thể truy cập những kiến thức cần cho công việc sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ của mình.
Hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng tính đến năm 2020 như sau:
Năm học | Tổng số đơn vị hành chính cấp xã | Số lượng TTHTCĐ | Tỷ lệ cấp xã có TTHTCĐ |
2010 - 2011 | 11.110 | 10.696 | 96,27% |
2011 – 2012 | 11.122 | 10.826 | 97,33% |
2012 - 2013 | 11.106 | 10.877 | 97,93% |
2013 - 2014 | 11.131 | 10.994 | 98,76% |
2014 – 2015 | 11.164 | 11.083 | 98,87% |
2015 - 2016 |
| 11.057 |
|
2016 – 2017 |
| 11.081 |
|
2017 – 2018 | 11.162 | 11.019 | 98,71% |
2018 – 2019 |
| 10.971 |
|
2019 - 2020 | 10.614 | 9.786 | 92,19% |
Mấy năm gần đây, số lượng Trung tâm học tập cộng đồng có phần giảm sút, trước hết là do không được cấp kinh phí theo quy định của nhà nước. Mặt khác, sự sáp nhập Trung tâm học tập cộng đồng với Trung tâm văn hóa – thể thao ở một số địa phương cũng là một tác nhân làm giảm số lượng Trung tâm học tập cộng đồng. Điều này tuy tháo gỡ phần nào khó khăn về tài chính để tạo điều kiện cho người lớn học tập thường xuyên, nhưng lại không đúng quy định của Luật Giáo dục.
Một trong những khó khăn của Trung tâm học tập cộng đồng là thiếu giáo viên được đào tạo về khoa sư phạm giáo dục người lớn. Đồng thời, tuy Bộ Giáo dục và Đào tạo có cử giáo viên biệt phái sang giảng dạy tại Trung tâm học tập cộng đồng, nhưng số lượng còn quá ít, chất lượng lại không cao.
Dưới đây là thống kê về số giáo viên biệt phái.
Năm học | Số lượng TTHTCĐ | Số lượng giáo viên biệt phái | Tỷ lệ TTHTCĐ có giáo viên biệt phái |
2010 - 2011 | 10.696 | 4.450 | 41,60% |
2011 – 2012 | 10.826 | 5.616 | 51,87% |
2012 - 2013 | 10.877 | 5.347 | 49,15% |
2013 - 2014 | 10.994 | 5.809 | 52,83% |
2014 – 2015 | 11.083 | - | - |
2015 - 2016 | 11.057 | - | - |
2016 – 2017 | 11.081 | 5.510 | 49,72% |
2017 – 2018 | 11.019 | 5.967 | 54,15% |
2018 – 2019 | 10.971 | 5.228 | 47,65% |
2019 - 2020 | 9.786 | 5.451 | 55,70% |
(Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020)
V. Công tác thông tin – tuyên truyền và huấn luyện trong 25 năm khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
1. Công tác thông tin – tuyên truyền và huấn luyện của Trung ương Hội
a. Phát triển hệ thống báo, chí của Trung ương Hội
Báo Khuyến học và Dân trí
- Ra mắt bạn đọc: 1999.
- Số lượng phát hành: 20.000 bản/lần.
- Nội dung đăng tải chính: Đường lối, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, sự phát triển của xã hội học tập và xu thế học tập suốt đời của người lớn, những vấn đề khuyến học, khuyến tài, các chuyên mục về giáo dục.
- Hoạt động xuất sắc: Giải thưởng Nhân tài Đất Việt và Quỹ Nhân ái.
Báo Dân trí điện tử
- Ra mắt bạn đọc từ: 2005
- Số người truy cập: Trên dưới 10.000.000 người/ngày.
- Số quốc gia có người truy cập: 173 (Theo Google Analytics).
Báo Dân trí phục vụ đồng bào thiểu số và miền núi
- Xuất bản: 2 kỳ/tháng
- Số lượng phát hành: 300 bản/kỳ.
(Tờ báo do Chính phủ hỗ trợ về tài chính).
Tạp chí “Dạy và Học ngày nay”
- Ra mắt bạn đọc: 2002.
- Tính chất: Tạp chí khoa học (ISSN: 1859 – 2694)
- Chuyên mục: Lý luận dạy học, Dạy học sáng tạo, Xã hội học tập, Diễn đàn giáo dục, Giáo dục nước ngoài, Giáo dục gia đình.
Website Hội Khuyến học Việt Nam
- Ra mắt bạn đọc: 2007.
- Nội dung đăng tải: Các bài viết của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, của lãnh đạo Hội khuyến học về đường lối chính sách giáo dục của Đảng, các Quyết định của Chính phủ về xã hội học tập, công tác khuyến học, khuyến tài...
- Số người truy cập: 5.000.000 người/tháng.
Trung ương Hội có kế hoạch chỉ đạo chặt chẽ hệ thống báo chí trong suốt 25 năm qua:
- Các báo giấy, báo điện tử và website của Trung ương Hội đã đăng tải nhiều bài có chất lượng tốt, được bạn đọc theo dõi và hoan nghênh, nhất là những bài viết về xã hội học tập, các mô hình học tập, những gương sáng học tập suốt đời, công tác khuyến học, khuyến tài v.v...
Báo Khuyến học và Dân trí đã giành 1 giải Ba và 1 giải khuyến khích của giải Báo chí quốc gia, 2 bằng khen của Bộ Thông tin – Truyền thông, 1 bằng khen của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Tổng biên tập Tạp chí Dạy và Học ngày nay cũng từng được bằng khen về hoạt động báo chí.
- Báo chí của Trung ương Hội phối hợp hoạt động tốt với báo chí của Trung ương và Hà Nội, với Đài Phát thanh và Đài Truyền hình Quốc gia. Ban Thông tin – Tuyên truyền của Trung ương Hội cùng với các kênh VTV, VOV đã có nhiều thước phim tư liệu, phim phóng sự về phong trào khuyến học, khuyến tài và những gương sáng học tập suốt đời.
b. Công tác tuyên truyền của Trung ương Hội
- Vào những năm 2002 – 2004, khi hệ thống báo giấy hoạt động chưa mạnh, Trung ương Hội cho ra đời Thông tin khuyến học, mỗi tháng ra 01 số, mỗi số 600 bản. Thông tin Khuyến học được chuyển tới tay cán bộ cốt cán của 63 Hội địa phương.
Từ năm 2000 đến nay, Trung ương Hội đã phát hành hàng trăm đầu sách về các văn bản pháp quy của công tác khuyến học, về các sự kiện khuyến học nhằm làm tài liệu tuyên truyền trong và ngoài Hội về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
Năm 2020, Trung ương Hội đã xuất bản 3 cuốn sách:
- Kỷ yếu Hội thảo “Trường đại học với việc triển khai và thực hiện mô hình công dân học tập”.
- Những mô hình học tập tiêu biểu giai đoạn 2016 – 2020.
- Hội Khuyến học Việt Nam thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhà xuất bản Dân trí, 2 trung tâm sách khuyến học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng đã xuất bản hàng trăm đầu sách, hỗ trợ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phổ biến những tri thức về giáo dục, góp phần vào việc đổi mới giáo dục và đào tạo.
- Trung ương Hội đặc biệt quan tâm đến việc phổ biến nội dung các văn kiện của Đảng và Nhà nước như Chỉ thị 11-CT/TW của Bộ Chính trị, Quyết định 112/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 89/QĐ-TTg và 281/QĐ-TTg... và gần đây là Kết luận 49-KL/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định 489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nhờ đó, cán bộ và hội viên được tiếp cận và quán triệt những nội dung của các văn kiện để triển khai công việc trên các địa bàn hoạt động của mình.
- Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, theo Hướng dẫn 22/HD-MTTW-BTT (19/3/2020), Trung ương Hội đã có công văn hướng dẫn các Hội địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phòng chống dịch bệnh Covid-19, chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của đại dịch và thực hiện quy định 5K với ý thức thường trực về mục tiêu kép: Làm công việc chuyên môn thật tốt và ngăn chặn có hiệu quả đại dịch Covid-19.
c. Tổ chức tập huấn, nâng cao chất lượng hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
Suốt từ ngày thành lập Hội đến nay, tập huấn cho cán bộ và hội viên để nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động được đưa vào kế hoạch, chủ yếu tiến hành vào mùa hè.
Nội dung tập huấn rất phong phú:
- Tập huấn mỗi khi Hội tiếp nhận một Nghị quyết, một Quyết định, một Chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ.
- Tập huấn để quán triệt chủ trương công tác của Trung ương Hội sau mỗi kỳ Đại hội nhiệm kỳ.
- Tập huấn để nâng cao chất lượng công tác văn phòng của các Hội địa phương, nhất là nâng cao năng lực sử dụng máy tính hoặc tham gia Đề án Bill & Melinda Gates, hoặc Đề án xây dựng thư viện điện tử v.v...
- Tập huấn về triển khai các Đề án xây dựng xã hội học tập như Đề án 281, Đề án 971...
- Tập huấn thông qua các hội nghị, hội thảo khoa học như hội thảo xây dựng các tiêu chí gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học, xây dựng các tiêu chí xây dựng các mô hình học tập theo Đề án 281, xây dựng tiêu chí xây dựng cộng đồng học tập cấp xã theo Thông tư 44/2014/TT-BGDĐT và gần đây là tiêu chí đánh giá đơn vị học tập cấp huyện và tỉnh theo Thông tư 22/2020/TT-BGDĐT...
- Những hội thảo có tác dụng tập huấn lớn đến tư duy giáo dục về phát triển việc học tập của người lớn trong thời đại kinh tế tri thức và xã hội chuyển đổi số, đáng kể nhất Hội nghị “Phát triển khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong các trường đại học, cao đẳng” (Đại học Thương Mại), Hội thảo “Học tập của người lớn – Thực trạng và giải pháp” (Khách sạn La Thành), Hội thảo về trường Đại học với việc học tập suốt đời của người lớn (Đại học Thái Nguyên và Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh, 2018), về trường đại học với việc xây dựng tài nguyên giáo dục mở (Đại học Mở Hà Nội và Đại học Tôn Đức Thắng, 2019), về trường đại học với việc xây dựng và phát triển mô hình công dân học tập (Đại học VinUni, 2020). Cuối năm 2020, Thường vụ Trung ương Hội đã tổ chức Hội thảo về Bộ tiêu chí đánh giá “Công dân học tập” để chuẩn bị Đề án trình Chính phủ về xây dựng mô hình công dân học tập giai đoạn 2021 – 2030 (Khách sạn La Thành, Hà Nội).
- Tập huấn thông qua các hội thảo nhân dịp kỷ niệm 50 năm toàn Đảng, toàn dân thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh, về công tác khuyến học theo Di huấn Hồ Chí Minh hoặc nhân kỷ niệm 130 năm, 131 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, (2020 – 2021).
- Kỷ yếu Đại hội biểu dương các mô hình học tập tiêu biểu trong giai đoạn 2016 – 2020 và kỷ yếu lễ trao học bổng “Học không bao giờ cùng” rất có giá trị động viên thi đua khuyến học, khuyến tài, qua đó, cán bộ và hội viên khuyến học có thêm nhiều bài học và kinh nghiệm bổ ích.
2. Công tác thông tin, tuyên truyền và huấn luyện của các Hội khuyến học địa phương
Sau năm 2000, tại một số địa phương đã thấy xuất hiện các bản tin khuyến học. Từ năm 2005, nhiều Hội địa phương bắt đầu phát triển các tập san, nội san khuyến học. Nhiều kỷ yếu về hội thảo, hội nghị, các sự kiện khuyến học, khuyến tài đã được biên tập, in ấn rất đẹp, bài vở phong phú, nội dung xúc tích.
Từ sau năm 2010, 63 Hội khuyến học các tỉnh và thành phố đều có nội san. Hàng chục địa phương đã lập website. Theo chương trình chuyển đổi số, một số Hội địa phương đã có nhiều trang tin điện tử với thiết bị khá hiện đại.
Nội dung đăng tải trên nội san và website của các tỉnh, thành Hội khuyến học tập trung vào những vấn đề sau:
- Những nhiệm vụ khuyến học, khuyến tài trong các văn kiện Đảng và Nhà nước như Chỉ thị 11-CT/TW, Nghị quyết 29-NQ/TW, Quyết định 89/QĐ-TTg, 489/QĐ-TTg, Kết luận 49-KL/TW...
- Những vấn đề mới về xã hội học tập trong Kết luận 49-KL/TW
- Những thành tích của địa phương trong triển khai Quyết định 281/QĐ-TTg, 971/QĐ-TTg...
- Chia sẻ kinh nghiệm khuyến học, khuyến tài, xây dựng các mô hình học tập.
- Nêu gương vượt khó trong học tập, tự học thành tài, gia đình có con thành đạt.
- Đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài nhân những ngày kỷ niệm lớn của quốc gia và địa phương.
- Thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh và những Di huấn của Người trong quá trình hoạt động công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.
- Thành tích của địa phương trong triển khai xây dựng các mô hình hiếu học và khuyến học trước đây, các mô hình học tập hiện nay.
- Tuyên truyền rộng rãi những kết quả của các Đại hội biểu dương các mô hình hiếu học và khuyến học cũng như các mô hình học tập, các hội nghị sơ kết, tổng kết phong trào học tập suốt đời, thi đua khuyến học, khuyến tài.
VI. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế
1. Trung ương Hội
a. Công tác đối ngoại
Ngay từ khóa I, Trung ương Hội đã chủ trương đẩy mạnh công tác đối ngoại nhằm tăng cường các nguồn lực cho công tác khuyến học, khuyến tài theo tinh thần xã hội hóa.
Các đối tác chính là:
- Những tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp và các tổ chức xã hội có chức năng giáo dục, có điều kiện hợp tác (Hội Người cao tuổi, Hội Cựu giáo chức, Hội Cựu chiến binh...)
- Những Bộ, Ban, Ngành, đoàn thể có liên quan (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ đội biên phòng...)
- VCCI và một số doanh nghiệp.
- Các tổ chức tôn giáo và tổ chức nhân đạo, từ thiện.
- Cơ quan thông tấn, báo chí (Đài Phát thanh và Truyền hình, báo Giáo dục và Thời đại, báo Quân đội nhân dân, báo Hà Nội mới, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, báo Thanh niên...).
Những hoạt động chính trong từng nhiệm kỳ đại hội:
Nhiệm kỳ I:
- Phối hợp với Hội Nông dân để tổ chức học tập cho nông dân lao động.
- Tổ chức họp với Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam về vấn đề dạy nghề cho các chiến sĩ khi phục viên và vấn đề quân nhân tại ngũ giúp dân phổ cập giáo dục tiểu học tại địa bàn đóng quân...
- Làm việc với Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng xây dựng đội ngũ “Thầy giáo quân hàm xanh” trong việc xóa mù chữ và dạy chương trình tiểu học cho đồng bào thiểu số và người lao động ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Nhiệm kỳ II:
- Tổ chức các hội nghị với lãnh đạo Tổng liên đoàn lao động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ Việt Nam, Công đoàn giáo dục Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi... để bàn về tổ chức học tập thường xuyên cho các thành viên của những đơn vị trực thuộc của họ.
- Cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức sơ kết 3 năm xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng và tổng kết 5 năm phát triển hệ thống trung tâm để tăng nhanh về số lượng (8/1/2003).
Nhiệm kỳ III:
- Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo để triển khai cuộc vận động xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ phát động.
- Thống nhất kế hoạch với Bộ Giáo dục và Đào tạo về ngày Hội “đưa trẻ đến trường” vào dịp khai giảng năm học mới.
Nhiệm kỳ IV:
- Tập trung vào việc phối hợp với cơ quan nghiên cứu giáo dục, một số chuyên gia và UNESCO vào việc trao đổi thông tin về xã hội học tập qua các hội thảo.
- Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, một số cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền về Quyết định 89/QĐ-TTg, 281/QĐ-TTg.
Nhiệm kỳ V:
- Ký kết kế hoạch hoạt động khuyến học, khuyến tài với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp, Hội Người cao tuổi Việt Nam.
- Cùng với Hội Khuyến học thành phố Hà Nội, Ban cán sự các trường đại học Hà Nội vận động xây dựng các tổ chức khuyến học trong một số trường đại học đóng trên địa bàn Hà Nội và những trường do UBND Hà Nội quản lý.
- Phối hợp và vận động một số doanh nghiệp và nhà chùa hỗ trợ đồng bào các vùng bị lũ lụt, sạt lở do mưa bão và gặp khó khăn trong mùa dịch Covid-19.
Về hợp tác quốc tế
- Sự kiện hợp tác quốc tế mà Trung ương Hội tiến hành là kết nối với Liên đoàn Quốc gia các Hiệp hội UNESCO Nhật Bản (NFVAJ) để thực hiện Dự án xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho dân làng chài xã Hải Triều (Hải Hậu, Nam Định).
- Trung ương Hội đã làm việc với một số tổ chức như Radda Barnen, UNICEF, World Vison, tranh thủ sự giúp đỡ của họ về học bổng, thuốc men, quần áo cho trẻ em nghèo.
- Trung ương Hội đã đặt quan hệ hợp tác với Văn phòng Dự án Happel (HSPO), ký kết học bổng khuyến khích tài năng trẻ trong lĩnh vực nông nghiệp, với giáo sư Odon Vollet (Pháp) về chương trình học bổng khuyến khích tài năng cho sinh viên của khoa Vật lý (Cả Dự án Happel lẫn Odon Vallet, mỗi năm có 300 học bổng cho mỗi lĩnh vực, mỗi học bổng trị giá 7.000.000đ. Người học giỏi sẽ được học bổng liên tục trong 3 năm đại học).
- Hội cũng đã gặp gỡ, làm việc với Khoa giáo dục người lớn (Đại học Tổng hợp California, Trường đào tạo công tác xã hội thuộc Đại học Tổng hợp South Carolina, Viện học tập suốt đời của UNESCO, Viện Hợp tác quốc tế thuộc Hiệp hội giáo dục người lớn của Cộng hòa Liên bang Đức... để trao đổi kinh nghiệm và tài liệu.
- Nhiều nhà hoạt động về văn hóa – giáo dục, nhiều chuyên gia giáo dục người lớn đã làm việc với Trung ương Hội để xây dựng hướng xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam như Katherine Muller-Marin (Trưởng đại diện UNESCO Việt Nam), Sun Lei (Điều phối viên chương trình giáo dục UNESCO), Arne Carlsen (Giám đốc Viện học tập suốt đời của UNESCO), Jin Yang, Rika Yorozu, Koeur Lee (Viện học tập suốt đời của UNESCO) v.v...
2. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế của các Hội khuyến học địa phương
Với các Hội địa phương, công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế nhằm chủ yếu về xây dựng quỹ khuyến học, tổ chức các sự kiện và một số hoạt động giáo dục trẻ em.
Có khoảng gần 300 doanh nghiệp Việt nam đã hỗ trợ Hội khuyến học các tỉnh, thành phố các khoản tài chính và hiện vật dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó phải kể đến một số ngân hàng, một số tập đoàn hoặc công ty lớn, những xí nghiệp đóng trên địa bàn dân cư.
Nhiều tổ chức quốc tế cũng hỗ trợ công tác khuyến học ở địa phương như World Vision, Tổ chức bánh mì cho Thế giới (BfdW), tổ chức Misereor (Đức), Action Aid, Cordail, SIDA, Ford Foundation, World Bank, Đông – Tây hội ngộ và nhiều Sứ quán nước ngoài như Đức, Hà lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Pháp, New Zeland...
VII. Công tác nghiên cứu khoa học
1. Trung ương Hội
a/ Công trình khoa học lớn Hội Khuyến học Việt Nam chủ trì là Đề tài nghiên cứu độc lập cấp Nhà nước: “Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam”, được tiến hành trong 30 tháng (5/2007 – 12/2009) theo Quyết định 616/QĐ-BKHCN (19/4/2007). Đề tài này do Thủ tướng Chính phủ trực tiếp giao cho Hội.
Kết quả của Đề tài được phản ánh ở nhiều điểm thuộc nội dung Quyết định 89/QĐ-TTg.
b/ Từ năm 2013 đến năm 2020, Trung ương Hội liên tiếp tổ chức các hội thảo khoa học để xác định những vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc triển khai nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập.
- Hội thảo “Người giáo viên với sự nghiệp xây dựng xã hội học tập” (phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNESCO hỗ trợ tài chính) tại Văn Miếu – Quốc Tử giám, Hà Nội (2013).
- Hội thảo “Xây dựng xã hội học tập – Từ tầm nhìn đến hành động” (phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, với sự tài trợ của UNESCO) tại 4 địa điểm: Hà Nội, Phú Thọ, Huế, TP.Hồ Chí Minh (1913, 1914).
- Hội thảo theo các chuyên đề “Trường đại học với giáo dục người lớn, xây dựng tài nguyên giáo dục mở, trong sự nghiệp xây dựng xã hội học tập” (phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo) tại 6 trường đại học (Đại học Thương mại, Đại học Mở Hà Nội, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học VinUni, 2017, 2019, 2020).
- Trung ương Hội đã đồng chủ trì với UBND thành phố Hải Dương hội thảo xây dựng thành phố Hải Dương học tập, sau đó đã đăng ký gia nhập mạng lưới thành phố học tập do UNESCO điều hành (2013).
c/ Nghiên cứu các Bộ tiêu chí đánh giá công nhận các mô hình học tập theo Quyết định 281/QĐ-TTg, 489/QĐ-TTg:
- Tiêu chí đánh giá công nhận gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập, đơn vị học tập và triển khai thí điểm (2014, 2015).
- Nghiên cứu tiêu chí đánh giá, công nhận mô hình công dân học tập và triển khai thí điểm (2020, 2021).
- Nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh tiêu chí đánh giá các mô hình học tập theo Quyết định 489/QĐ-TTg và Chỉ thị 14/CT-TTg và tổ chức thí điểm (2020, 2021).
2. Hội khuyến học địa phương
a/ Nhiều Hội khuyến học địa phương đã nghiên cứu mô hình Trung tâm học cộng đồng phù hợp với điều kiện các địa bàn khác nhau (Hòa Bình, Phú Yên...)
b/ Hàng chục Hội địa phương đã nghiên cứu và đề xuất nhiều mô hình khuyến học cơ sở:
- Mô hình xã “5 không” (xã Thanh Cao, Thanh Oai, Hà Nội).
- Mô hình xã “5 có” (xã Phong An, Phong Điền, Thừa Thiên Huế).
- Mô hình “Nông trường sông Hậu làm khuyến học” (Cần Thơ).
- Mô hình “Nhà trường tham gia công tác khuyến học” (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La...)
- Mô hình “Nhà thờ khuyến học” (Nhà thờ Hải Hậu, Nam Định).
- Mô hình “Nhà chùa khuyến học” (Chùa Đức Sơn, Huế).
- Mô hình “Bưu điện khuyến học” (Bưu điện Ninh Bình).
Hội Khuyến học một số tỉnh còn phối hợp với các hội khác để xây dựng các mô hình như mô hình “Người cao tổi làm khuyến học”, “Hội nông dân tham gia khuyến học”, “Hội phụ nữ tham gia khuyến học” v.v...
c/ Phối hợp với Đề tài “Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam” có 21 Hội khuyến học địa phương đã xây dựng và triển khai đề tài xây dựng mô hình xã hội học tâp ở địa phương mình và viết thành chuyên đề khoa học góp phần làm phong phú cơ sở thực tiễn và lý luận cho Đề tài độc lập do Trung ương Hội chủ trì.
- Tỉnh Hội khuyến học Phú Thọ, Hòa Bình, Yên Bái đã tiến hành đề tài mô hình công dân học tập vào năm 2018.
- Thành Hội Khuyến học thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn thành đề tài “Thành phố Hồ Chí Minh – thành phố học tập” (2020).
VIII. Xây dựng và phát triển các đơn vị trực thuộc Trung ương Hội
Đơn vị đầu tiên được thành lập sau Đại hội toàn quốc lần thứ I của Hội là báo Khuyến học. Trung ương Hội giao nhiệm vụ cho tờ báo phải tuyên truyền, phổ biến 3 mục tiêu của Hội theo Nghị quyết của Đại hội đề ra.
Đến năm 1999, có 5 trung tâm được thành lập. Tiếp sau đó, từ năm 2000 đến năm 2010, số trung tâm đã lên tới con số 60, 2014: 75 đơn vị.
Trong báo cáo công tác khuyến học nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập Hội Khuyến học Việt Nam, các đơn vị trực thuộc Trung ương Hội được phân thành 4 nhóm:
Nhóm I: Hợp tác, liên kết, dịch vụ đào tạo với các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế.
Trong nhóm này có 20 trung tâm và 2 trường Trung cấp kỹ thuật, trong đó, hoạt động có hiệu quả tốt nhất là Trường Mầm non Baby-home Hoa Linh, Trung tâm tư vấn và phát triển (thực hiện Chương trình xã hội hóa dạy tiếng anh cho học sinh tiểu học).
Nhóm II: Hỗ trợ tài chính và những nguồn lực khác cho trường phổ thông
Nhiều trung tâm và công ty trực thuộc của Hội đã hỗ trợ hàng trăm tỷ đồng cho các trường học.
Nhóm III: Hỗ trợ du học
Trong nhóm này, tổ chức VIECA và một số đơn vị đã giúp gần 10.000 học sinh đi du học nước ngoài.
Nhóm IV: Khai thác và tổ chức các chương trình, các dự án do các tổ chức phi Chính phủ (NGO) tài trợ.
Giai đoạn 2016 - 2020
Trong giai đoạn này, số đơn vị trực thuộc giảm dần
Nếu nhă năm 2014, Trung ương Hội có 75 đơn vị trực thuộc và qua công tác kiểm tra từ năm 2018 con số đó giảm, chỉ còn 57 thì tới tháng 06/2021, số đơn vị trực thuộc còn lại là 27.
Lý do giảm các đơn vị trực thuộc là:
- Những đơn vị làm công việc đào tạo không hoạt động được với lý do nhà nước không cho phép làm chức năng này. Mặt khác, cơ quan có nhu cầu đào tạo đã liên kết trực tiếp với các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục khác trong đào tạo, không theo cơ chế nhờ Trung tâm làm nhiệm vụ dịch vụ nữa.
- Nhiều đơn vị hoạt động dựa vào các Đề án của nước ngoài nay không còn Đề án nữa nên hết việc làm.
- Một số đơn vị không còn thực hiện chức năng khuyến học, khuyến tài nên hoặc tự xin giải thể, hoặc phải tìm cơ quan chủ quản.
- Một số ít đơn vị vi phạm quy chế hoạt động, phải đình chỉ hoạt động.
IX. Công tác thi đua, khen thưởng
Thi đua khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập là một phong trào rộng lớn, lan tỏa trên khắp các địa bàn dân cư trong cả nước. Trung ương Hội và các Hội khuyến học địa phương hết sức coi trọng công tác thi đua, coi đó là một động lực để cán bộ Hội các cấp cùng các hội viên và nhân dân nỗ lực hoạt động, đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng xã hội học tập. Phong trào thi đua được đánh dấu sự khởi đầu là Hội nghị biểu dương các điển hình tiên tiến trong phong trào khuyến học ngày 20/10/1998 - đúng 2 năm sau ngày thành lập Hội - tại Nam Định. Từ đó đến nay, qua 23 năm (10/1998 - 10/2021), phong trào thi đua luôn luôn sôi động liên tục và ngày càng mở rộng trong các tầng lớp nhân dân.
Các phần thưởng thi đua của toàn Hội qua 25 năm (1996 - 2021) được phản ánh trong bảng dưới đây:
Năm | Trung ương Hội khen | Nhà nước khen | Giải thưởng | |||||||
Cờ | Bằng khen | Kỷ niệm chương | Bằng khen | Cờ | Huân chương LĐ 3 | Huân chương LĐ 2 | Huân chương LĐ 1 | Giải khuyến tài | Bảng vàng | |
1998-2015 | 954 | 17,858 | 29,237 | 0 | 46 | 15 | ||||
2016 | 121 | 2,414 | 3,688 | 7 | 2 | 1 | 4 | 2 | 4 | 4 |
2017 | 99 | 1,693 | 2,426 | 1 | 4 | 2 | 3 | 3 | 7 | |
2018 | 138 | 1,799 | 2,417 | 3 | 2 | 2 | 1 | 6 | ||
2019 | 110 | 1,968 | 2,564 | 2 | 1 | 2 | 1 | 2 | 9 | |
2020 | 189 | 3,299 | 2,775 | 1 | 1 | 2 | 10 | |||
5/2021 | 105 | 1,382 | 1,480 | 1 | 4 | |||||
Cộng | 1716 | 30,413 | 44,587 | 14 | 14 | 8 | 9 | 2 | 63 | 45 |
Trong 25 làm khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, Trung ương Hội đã nhận được những phần thưởng cao quý sau đây:
Ngày 5/12/2005, Trung ương Đảng tặng bức trướng: Hội Khuyến học Việt Nam, khuyến học, khuyến tài, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập.
Ngày 5/12/2005, Chủ tịch nước ra Quyết định số 1453/2005/QĐ-CTN tặng Huân chương Lao động hạng Hai.
Ngày 27/12/2010, Chủ tịch nước ra Quyết định số 1598/QĐ-CTN tặng Huân chương lao động hạng Nhất.
Ngày 11/9/2015, Chủ tịch nước ra Quyết định số 2025/QĐ-CTN tặng Huân chương lao động hạng Nhất (lần thứ hai).
Ngày 13/11/2015, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra Quyết định số 526/QĐ-MTTW tặng bằng khen vì thành tích xuất sắc trong việc thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư giai đoạn 1995 - 2015” và “Ngày vì người nghèo” giai đoạn 2000 - 2015.
Năm 2018: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng bằng khen.
Năm 2019: Hội nhận cờ thi đua của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 2020: Một cán bộ khuyến học nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ do được phong danh hiệu “Cán bộ dân vận khéo” tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng.
Năm 2021: Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen vì Hội hoàn thành xuất sắc Đề án 281.
PHẦN IV
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT QUÁ TRÌNH ¼ THẾ KỶ
KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI, XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP
I. Những trụ cột chính của sự nghiệp khuyến học
1. Trụ cột thứ nhất: Truyền thống hiếu học của dân tộc
Hiếu học là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là cốt lõi trong văn hóa học tập của người Việt Nam. Truyền thống đó dựa trên triết lý học tập mà cha ông đã rút ra từ thực tiễn trong quá trình dựng nước và giữ nước qua hàng năm: Học để làm người.
“Học để làm người” là tư tưởng giáo dục được giữ gìn trong từng gia đình người Việt và ngày nay, nó bắt gặp tư tưởng giáo dục của thế giới hiện đại khi các quốc gia trên thế giới xây dựng xã hội học tập do UNESCO tổng kết: Learning to be (Học để tồn tại, học để làm người).
Truyền thống hiếu học là động lực giúp người dân xây dựng thành công những gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học và cộng đồng khuyến học giai đoạn 2000 - 2010 và gia đình học tập, dòng họ học tập, cộng đồng học tập, đơn vị học tập giai đoạn 2011 - 2020 và sẽ là động lực để phát triển các mô hình học tập giai đoạn 2021 - 2030.
2. Trụ cột thứ hai: Tư tưởng “Học không bao giờ cùng”, ý chí tự học suốt đời và mục đích làm cho dân tộc trở nên thông thái của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong suốt 25 năm qua, trong việc triển khai công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, cán bộ và hội viên của Hội Khuyến học Việt Nam luôn luôn dựa vào những Di huấn và bản Di chúc thiêng liêng của Người để soi sáng cho việc triển khai công việc vào cuộc sống.
Trong cuộc vận động toàn dân học tập suốt đời, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập, Hội Khuyến học Việt Nam luôn động viên nhân dân luôn coi sự dốt nát là một kẻ thù nguy hiểm, luôn chủ trương học tập và tự học là con đường duy nhất để phát huy mọi năng lực sẵn có trong từng người, luôn tu dưỡng để mỗi người vừa có đức vừa có tài để trở thành những công dân phát triển hoàn toàn.
3. Trụ cột thứ ba: Đường lối, chủ trương, chính sách phát triển nền giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Quá trình triển khai công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của các cấp Hội luôn được đặt trước yêu cầu quán triệt đầy đủ các Nghị quyết, Chỉ thị và Quyết định của Trung ương Đảng, các Quyết định, kế hoạch của cấp ủy Đảng các cấp về những vấn đề đổi mới giáo dục, xây dựng một nền giáo dục mở để ai cũng được học hành, thực hiện học tập suốt đời theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn cách mạng.
Hội Khuyến học Việt Nam đã hết sức nghiêm túc thực hiện những quan điểm, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng dưới sự quản lý của Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.
4. Trụ cột thứ tư: Tiến hành mọi chủ trương, kế hoạch khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo tinh thần xã hội hóa.
Ngay từ sau ngày thành lập, Hội Khuyến học Việt Nam ý thức được tầm quan trọng của sự phối hợp, liên kết với các Bộ, Ban, Ngành và đoàn thể, với các doanh nghiệp và với các tổ chức quốc tế để có sức mạnh tinh thần và vật chất để triển khai nhiệm vụ chính trị của mình. Hội luôn cố gắng đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc vận động các lực lượng xã hội tham gia các hoạt động khuyến học trên các địa bàn dân cư. Sự đoàn kết, đồng thuận, nhất trí và chia sẻ trách nhiệm là yếu tố thành công trong công việc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”.
II. Những bài học và kinh nghiệm rút ra từ phong trào khuyến học
1. Tham mưu tốt, dân vận khéo
Trong tất cả các báo cáo tổng kết công tác hàng năm của các Hội Khuyến học địa phương, hầu như khi nói đến kinh nghiệm, bao giờ công tác tham mưu với cấp và chính quyền các cấp đều được nêu lên đầu tiên. Mục tiêu của việc tham mưu là giúp lãnh đạo địa phương có chương trình, kế hoạch cụ thể hóa các văn kiện về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương, đồng thời tranh thủ cấp ủy và chính quyền tạo điều kiện giúp cho Hội hoạt động thuận lợi.
Cùng với việc tham mưu cho lãnh đạo còn có công tác vận động nhân dân hưởng ứng những công việc do cấp ủy và chính quyền yêu cầu phải thực hiện. Thực chất của công việc này là công tác dân vận. Dân vận khéo sẽ lôi cuốn được các lực lượng xã hội ở địa phương đóng góp các nguồn lực khác nhau cho sự nghiệp khuyến học, khuyến tài và tạo nên phong trào quần chúng rộng khắp trên địa bàn dân cư.
Chính tổ chức UNESCO cũng rút ra kinh nghiệm này và yêu cầu xây dựng các mô hình học tập như thành phố học tập, phải bảo đảm 3 điều kiện:
- Lãnh đạo có sự cam kết chính trị;
- Các lực lượng có liên quan đều tham gia;
- Các nguồn lực được huy động.
Công tác tham mưu và công tác dân vận ở Việt Nam được tiến hành chính là để giải quyết tốt 3 điều kiện như UNESCO tổng kết.
2. Nâng cao nhận thức về xã hội học tập để tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất trong việc triển khai chủ trương giáo dục của Đảng
Xã hội học tập là một khái niệm luôn vận động gắn với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức. Toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp hóa lần thứ tư, những chương trình đổi mới giáo dục trên toàn cầu và chiến lược chuyển đổi số của các quốc gia đã đặt ra những yêu cầu nghiêm túc đối với sự phát triển giáo dục. Việc tạo ra một xã hội mà trong đó mỗi công dân phải học tập suốt đời, không bị bất cứ rào cản nào trong việc tiếp cận với những cơ hội học tập là một vấn đề rất cơ bản trong nhận thức của con người, từ cán bộ cấp cao đến những công dân bình thường trong xã hội.
Vì vậy, suốt 25 năm qua, Hội khuyến học từ Trung ương tới cấp cơ sở đã liên tục mở những lớp tập huấn, những hội nghị, hội thảo và tổ chức hệ thống báo chí, các bản tin, các trang thông tin điện tử... nhằm giúp cho cán bộ, hội viên và nhân dân luôn quán triệt nội dung của cá văn kiện về đổi mới giáo dục, xây dựng xã hội học tập, phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên để bảo đảm chất lượng và hiệu quả của việc học tập suốt đời trong nhân dân.
3. Chăm lo phát triển các tổ chức Hội và hội viên để trở thành lực lượng nòng cốt trong mọi cuộc vận động toàn dân học tập suốt đời
Bảo đảm duy trì và phát triển bền vững của phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong suốt một phần tư thế kỷ là sự thành công lớn nhất của Hội Khuyến học Việt Nam. Yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên sự thành công này chính là các tổ chức Hội đã phủ kín các địa bàn dân cư, đã được xây dựng trong rất nhiều cơ quan, trường học, doanh nghiệp. Với số hội viên chiếm tỷ lệ trên 20% dân số, sinh hoạt trong 137.408 chi hội và 121.110 ban khuyến học bám trụ trong các cộng đồng thôn bản, tổ dân phố và nhiều đơn vị công tác của các Bộ, Ban, ngành và đoàn thể, Hội đã gây dựng được phong trào khuyến học, khuyến tài rộng khắp trong cả nước.
Trong giai đoạn 2021 – 2030, việc phát triển các tổ chức và hội viên sẽ được Hội khuyến học các cấp đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập trong kỷ nguyên số.
4. Coi trọng nghiên cứu khoa học để sự nghiệp xây dựng xã hội luôn tiếp cận với xu thế phát triển giáo dục thế giới, tạo ra một mô hình xã hội học tập mang bản sắc Việt Nam
Xã hội học tập là kết quả của nền kinh tế tri thức, của sự phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ. Xã hội học tập chỉ phát triển khi nó liên tục được bổ sung những thành quả của các công trình nghiên cứu khoa học về các cuộc cải cách, đổi mới, cách tân giáo dục, những tiến bộ về công nghệ dạy học, những tri thức mới về giáo dục người lớn...
Những mô hình học tập trong xã hội học tập phải được xây dựng trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tiễn gắn với những lý thuyết hiện đại, lại cần tham khảo kinh nghiệm nước ngoài kết hợp với tổng kết kinh nghiệm trong nước.
Trong nhiều năm qua, việc triển khai xây dựng xã hội học tập không có vướng mắc gì về học thuật chính là nhờ Hội khuyến học luôn coi trọng cơ sở lý luận của mọi chủ trương, chính sách trong lĩnh vực này.
5. Xây dựng đội ngũ cán bộ cốt cán cho các cấp Hội
Sự phát triển của Hội Khuyến học Việt Nam với việc hoàn thành những nhiệm vụ chính trị mà Hội đảm nhiệm trước sự giao phó của Đảng và Nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào các cán bộ cốt cán của Hội. Đội ngũ này trong suốt những năm qua luôn thể hiện được sự nhiệt tình trong công việc, sự đoàn kết và đồng lòng trước mọi chủ trương của Đảng, ý thức kỷ luật lao động trong thực thi nhiệm vụ, tinh thần tự nguyện, tự giác.
Vì vậy, tuy công việc khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập rất khó khăn, nguồn lực đầu tư rất hạn chế, sức khỏe có phần giảm sút do tuổi cao, lương hưu thấp, chế độ thù lao nơi có nơi không, nhưng phong trào khuyến học không bao giờ bị gián đoạn, thành tích khuyến học tăng lên hàng năm.
Đây là bài học quý giá đối với việc lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ cốt cán của các cấp Hội khuyến học, xây dựng Hội thành một lực lượng đoàn kết, đồng thuận, gắn bó với sự nghiệp khuyến học.
6. Xây dựng các quỹ khuyến học ở cấp trung ương và địa phương
Quỹ khuyến học các cấp từ trung ương tới cơ sở là một thế mạnh của Hội. Quỹ không chỉ là một phương tiện để hỗ trợ phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, mà là một nguồn lực quan trọng, thể hiện được sức mạnh của các tổ chức khuyến học. Quỹ khuyến học còn là biểu tượng về tinh thần đồng tâm, nhất trí của các lực lượng xã hội trong sự nghiệp phát triển sự nghiệp xây dựng xã hội học tập theo tinh thần xã hội hóa.
7. Coi trọng công tác tuyên truyền về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập
Công tác tuyên truyền được thực hiện mạnh mẽ, bền bỉ, liên tục đã góp phần đưa những hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trở thành ý thức tự giác của cán bộ quản lý các cấp, của cán bộ và hội viên các tổ chức khuyến học, của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trong cả nước.
Sự tiến bộ xã hội hiện nay như phát triển kinh tế tri thức, phát triển sự nghiệp khuyến học trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0 và sự chuyển đổi số quốc gia lại càng đòi hỏi phải nâng cao chất lượng tuyên truyền về công tác khuyến học, về xã hội học tập và các mô hình học tập.
8. Thi đua khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đã thành một phong trào ăn sâu vào từng thôn bản, tổ dân phố. Sự thành công của công tác khuyến học trong suốt 25 năm qua có phần đóng góp không nhỏ vào việc sơ kết, tổng kết thi đua, tổ chức các Đại hội biểu dương những mô hình học tập, những cá nhân và tổ chức khuyến học một cách chu đáo, kịp thời, trân trọng từng sáng kiến tổ chức học tập và tự học, thực hiện mọi việc mang lại lợi ích và hiệu quả xây dựng xã hội học tập.
KẾT LUẬN
Qua 25 năm xây dựng và phát triển, Hội Khuyến học Việt Nam đã thực sự trưởng thành, đã và đang phát huy năng lực của mình cho sự nghiệp khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, uy tín của Hội ngày càng được nâng lên.
1. Hội Khuyến học Việt Nam là một tổ chức xã hội lớn mạnh với tốc độ nhanh chóng, lực lượng ngày càng vững mạnh. Ngày đầu thành lập, toàn Hội có hơn 100.000 hội viên thuộc 21 tỉnh, thành hội. Đến nay, sau 25 năm (1996 – 2020), Hội đã có tổ chức tại 100% tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, 100% các quận/huyện/thị xã và gần 100% các xã, phường, thị trấn; Số hội viên đã tăng hơn 210 lần (1996: 100.000 hội viên, 2020: 21.363.739 hội viên), chiếm 21,89% dân số trong cả nước.
Cùng với sự phát triển hội viên, các chi hội khuyến học và ban khuyến học đã được thành lập ở hầu hết các thôn bản, tổ dân phố và trong nhiều trường học, cơ quan hành chính và sự nghiệp, doanh nghiệp và nhiều đơn vị trực thuộc các Bộ, Ban, Ngành và đoàn thể. Các chi hội khuyến học và Ban khuyến học đang phát huy tốt vai trò nòng cốt của mình trong cuộc vận động khuyến học, khuyến tài trên địa bàn dân cư trong cả nước.
2. Hội Khuyến học Việt Nam là một tổ chức xã hội có tính chất đặc thù, được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ, hoạt động trong phạm vi cả nước. Hội không có mục đích tự thân, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, không vụ lợi, lấy việc xây dựng xã hội học tập làm nhiệm vụ chính trị của mình.
Trong suốt một phần tư thế kỷ vừa qua, Hội luôn hoàn thành và hoàn thành vượt mức những công việc được giao, tạo được uy tín trong nhân dân, là một thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, giữ được chữ Tín trong xã hội.
3. Phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng và đơn vị đã lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia và ngày càng mở rộng không chỉ tại các khu dân cư, mà còn trong các cơ quan, đơn vị trực thuộc của nhiều Bộ, Ban, Ngành, nhiều tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp và xã hội Hội đã, đang đóng góp xây dựng hệ thống giáo dục thường xuyên theo hướng mở, đẩy mạnh các hình thức, phương thức học tập suốt đời của người lớn, phối hợp và liên kết với nhiều cơ quan, đoàn thể, trường đại học và doanh nghiệp tạo ra những cơ hội và điều kiện để hệ thống các thiết chế giáo dục người lớn tiếp cận với cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2021 – 2030.
4. Hội Khuyến học Việt Nam luôn coi những Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam trong việc triển khai toàn bộ chương trình khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Hội luôn quán triệt đầy đủ các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục, các mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, các quan điểm chỉ đạo xây dựng xã hội học tập phát triển khuyến học, khuyến tài để thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.
5. Cán bộ và hội viên của Hội Khuyến học Việt Nam là một lực lượng đoàn kết chặt chẽ, tận tâm, tận lực và luôn nhiệt tình, đầy trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng xã hội học tập, không quản khó khăn vất vả, luôn gắn bó với nhân dân trên mọi địa bàn dân cư để đưa sự học đến mọi người, mọi nhà, thực hiện ý nguyện “ai cũng được học hành” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
*
* *
Kỷ niệm 25 năm xây dựng và phát triển Hội Khuyến học Việt Nam, cán bộ và hội viên Hội khuyến học luôn biết ơn và ghi tạc công lao của những vị ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội các khóa, nay đã đi vào thế giới người hiền:
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội các khóa I, II, III, IV.
2. Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân, Chủ tịch đầu tiên của Hội.
3. Đồng chí Hoàng Quốc Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký đầu tiên của Hội.
4. Đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Bản trợ Hội.
5. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trưởng ban Kiểm tra Trung ương Hội.
6. Đồng chí Hồ Trúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ tịch Hội.
7. Đồng chí Hoàng Xuân Tùy, nguyên Thứ Trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Phó Chủ tịch Hội.
8. Đồng chí Vũ Anh Tuấn, nguyên Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Hội.
9. GS.TS Nguyễn Văn Đạo, nguyên Giáo đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.
10. Đại tá Nguyễn Tâm, Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.
11. Đại tá Bùi Khắc Lượng, Phó Trưởng ban kinh tế Trung ương Hội
12. Đồng chí Lê Vũ Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.
13. Thiếu tướng Nguyễn An, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Phó Chủ tịch Hội Khuyến học thành phố Hồ Chí Minh.
14. Đồng chí Hoàng Lương, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Ủy viên Ban sáng lập Hội Khuyến học Việt Nam.
15. Đồng chí Trần Thị Thiệp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Yên Bái.
16. Đồng chí Nguyễn Thị Thùy Mỵ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Quảng Trị.
17. Đồng chí Nguyễn Xuân Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương hội, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Bình Dương.
18. Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Thường vụ Hội, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Hội.
19. Đồng chí Đỗ Quốc Hùng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
20. Đồng chí Phan Tấn Tài, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Vĩnh Long.
21. Đồng chí Nguyễn Đăng Cúc, Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội, Trưởng ban Tổ chức cán bộ - quản lý các Trung tâm của Hội.
22. Đồng chí Dương Văn Đóa, Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội, Phó Chánh Văn phòng, Giám đốc Văn phòng Đại diện Hội Khuyến học ở phía Nam
In bài viết