Cổng thông tin điện tử
Hội khuyến học Việt Nam
Hội khuyến học Việt Nam
Thursday, 07/05/2026

Các tin khác

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khuyến học bằng vật chất thời Lê sơ

Thời Lê sơ (1428-1527) được coi là giai đoạn lịch sử phát triển hầu hết các phương diện đời sống xã hội. Giai đoạn này, nước ta giành được tự chủ sau 10 năm kháng chiến chống quân Minh (1418-1427), từng bước xây dựng thiết chế đất nước, đề cao Nho giáo, chăm lo khuyến học, đặc biệt là khuyến học bằng vật chất.

Khuyến học bằng vật chất thời Lê sơ - Ảnh 1.

Trường thi Nam Định - một trong hai trường thi ở khu vực phía Bắc thời Phong Kiến do Triều Đình tổ chức. Hình ảnh tư liệu lịch sử

Trong Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) cho biết ngay ở đầu thời Lê sơ, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đã "hạ chiếu cho trong nước dựng nhà học dạy dỗ nhân tài, trong kinh có Quốc Tử Giám, bên ngoài có nhà học các phủ. Nhà vua thân hành chọn con cháu các quan và thường dân tuấn tú sung bổ vào học sinh các cục chầu cận, chầu ở ngự tiền và sung vào Giám sinh ở Quốc Tử Giám. Lại hạ lệnh cho quan viên giữ trách nhiệm tuyển rộng rãi cả con em nhà lương gia ở dân gian sung vào sinh đồ ở các phủ, đặt sư nho để dạy bảo".

Cũng theo Lê Quý Đôn, ở đầu thời Lê sơ, những người đỗ thi Hương đã được triều đình cho miễn lao dịch để chuyên tâm học tập. 

Cụ thể "Đầu niên hiệu Thiệu Bình (1434-1439), hạ chiếu thi khảo học trò ở trong nước, lấy hơn ngàn người trúng cách, chia làm ba hạng, hạng nhất, hạng nhì bổ vào Quốc Tử Giám, hạng ba bổ vào trường các đạo để học tập, đều cho được miễn lao dịch"

Bản thân vua Lê Thái Tông (1434-1439) cũng rất chú trọng đến khuyến học, ông ra lệnh cho các quan địa phương ở các lộ, huyện trong cả nước phải soạn ngay danh sách học trò đi thi có trong bản lộ gửi về triều, "ai trúng đỗ thì được miễn lao dịch".

Với chính sách "ai đỗ được miễn lao dịch" ghi nhận trong chính sử là điểm mới bắt đầu được thực hiện ở thời Lê sơ mà trước đó ở thời Lý - Trần chưa thấy đề cập là động lực để khích lệ học trò ở giai đoạn này tiếp tục phấn đấu vươn lên trong học tập.

Tranh minh hoạ về trường thi và cảnh vinh quy bái tổ khi đỗ đạt. 

 

Đến thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), do bản thân là người học rộng, tài cao nên ông đặc biệt chú ý đến khuyến học. Có lẽ ông là vị vua duy nhất ở nước ta thấu hiểu sự vất vả của kẻ sĩ, "cơm áo nhờ ơn cha mẹ, đêm ngày đọc sách thánh hiền. Củi quế gạo châu, kham khổ nằm chưng trường ốc" thì cần phải khuyến khích họ " dùi mài mến nghiệp thi thư" để trở thành người tài giỏi cho đất nước. 

Ông có cả một bài văn "khuyến học", trong đó viết: " Nếu sớm tối không cần cù, thì công phu bị gián đoạn", chỉ ra những điều tưởng nhỏ nhặt nhưng thiết thực với học trò: "Ngồi ngay ngắn, đứng trang nghiêm, học rồi thường xuyên luyện tập. Tâm ngay chính, ý chân thành, đạo đức ngày càng thêm mới". Có như vậy, mới tạo ra thành quả của việc học, nói như ông như là để: "Giúp dân giúp chủ, lợi ích thấm khắp đương thời. Bản thân cha mẹ vẻ vang, sự nghiệp lưu truyền hậu thế".

Đối với trường Quốc Tử Giám, nơi đào tạo nhân tài cao nhất trong cả nước thì vua Lê Thánh Tông vẫn luôn giành sự ưu tiên cao nhất cho học trò học tập tại đây. Theo đề nghị của Phó đô Ngự sử Quách Hữu Nghiêm, vua y theo và chuẩn thành quy định: "Giám sinh Quốc Tử Giám thi Hội trúng tam trường được sung làm Thượng xá sinh, cho hưởng lương tiền mỗi tháng 1 quan; Nếu trúng nhị trường sung làm Trung xá sinh, hưởng lương mỗi tháng 9 tiền; Nếu trúng nhất trường, sung làm Hạ xá sinh, hưởng mỗi tháng 8 tiền. Đến khi bổ dụng thì các quan trong bộ Lại và Quốc Tử Giám chiếu số ngạch hiện khuyết để bảo cử, trao cho giữ các chức Tri huyện, Giáo thụ, Bạn độc hoặc Trưởng sử".

Quy định này không chỉ đã tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong học tập tại trường mà còn là động lực để Giám sinh trong cả nước phấn đấu trong các kỳ thi Hội, chí ít cũng được bổ vào Quốc Tử Giám học tập, hưởng lương theo quy định, cao hơn là đỗ Tiến sĩ, ra làm quan, bổ vào các cơ quan nhà nước, với cuộc sống sung túc hơn.

Không chỉ cấp lương trở thành chế độ cụ thể, có tính chất ổn định, lâu dài về sau, nhà trường còn tạo ra chế độ khuyến học rộng rãi so với trước đó bằng việc cho con em của tầng lớp bình dân nếu thi đỗ xuất sắc thì được bổ vào học tập tại trường, nhận lương theo mức quy định nêu trên. Còn nếu chỉ là người có điều kiện học tập, chưa đạt tầm mức xuất sắc thì được bổ vào học tập tại các trường công ở lộ hay phủ, nhận chế độ ưu đãi có kém hơn so với chế độ ở trường Quốc Tử Giám.

Đối với tài liệu học tập, cả hệ thống trường công ở giai đoạn này, từ trường Quốc Tử Giám ở trung ương đến trường ở các lộ, phủ thuộc các địa phương đều được nhà nước cấp phát, không phải mua, gồm Tứ thư, Ngũ kinh, Đăng khoa lục, Ngọc đường văn phạm, Văn hiến thông khảo và Văn tuyển cương mục. 

Những sách đó được kiểm soát bởi lệnh của vua Lê Thánh Tông: "Hiến ty các xứ hãy kiểm soát các phủ trong hạt mình, nếu thấy những sách nói trên mà quan bản phủ cố tình giữ riệt, sách học không giao cho học quan, sách thuốc không giao cho y quan, thì cứ thực tình tâu hặc lên, giao cho Hình bộ trị tội".

Cách làm này được coi là sự khuyến khích học tập có tính chất mở rộng cho toàn hệ thống trường công lập của nhà nước, từ trường Quốc Tử Giám đến trường học tại các lộ phủ, không ngoài mục đích nhằm tạo ra tầng lớp Nho sĩ đông đảo, làm nguồn cung ứng dồi dào cho các kỳ thi Hương, thi Hội, lấy người đỗ thừa hành trong bộ máy nhà nước.

Đối với người đỗ Tiến sĩ, triều vua Lê Thánh Tông lại ban hành chính sách khuyến học rất đáng chú ý. Lê Quý Đôn cho biết: "Khoảng niên hiệu Hồng Đức, chuẩn định thưởng tư cho thủy Tiến sĩ (người mới đỗ Tiến sĩ): Trạng nguyên 8 tư, Bảng nhãn 7 tư, Thám hoa 6 tư, Hoàng giáp 5 tư, Đồng Tiến sĩ 5 tư... Trạng nguyên được trao chức Thị giảng, Bảng nhãn trao chức Thị thư, Thám hoa trao chức Đãi chế, Hoàng giáp trao chức Hiệu lý".

Theo thống kê, số người đỗ Tiến của cả thời Lê sơ là 1001 vị, trong đó có 857 vị ra làm quan, đạt tỷ lệ 85,7%. 857 vị này được triều đình ban bổng lộc bằng hình thức cấp suất tùy hành cho họ để họ hưởng số tiền đi làm thuê của những người đó làm lộc cho bản thân. 

Cụ thể: "Về phần quan văn thì căn cứ vào khoa trường đỗ cao hay thấp, cấp cho họ suất tùy hành. Theo chế độ cũ: Đồng Tiến sĩ: 35 suất; Hoàng giáp: 42 suất; Thám hoa: 45 suất; Bảng nhãn: 50 suất; Trạng nguyên: 55 suất. Cho phép lấy mỗi suất 3 quan làm ngụ lộc"

Đó là chế độ khuyến học bằng vật chất thực sự có tác động lớn đến tầng lớp nho sĩ đương thời, tạo ra nhân tài là các vị đỗ Tiến sĩ Nho học với số lượng lớn cho đất nước, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa dân tộc ở thời Lê sơ thêm rực rỡ.


Tạp chí Công dân và Khuyến học

Tin đọc nhiều