Cổng thông tin điện tử
Hội khuyến học Việt Nam
Hội khuyến học Việt Nam
Thursday, 07/05/2026

Các tin khác

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khuyến học bằng tinh thần thời Lê sơ

Khác với thời Lý - Trần, ở thời Lê sơ do Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong đời sống xã hội nên giáo dục khoa cử được coi trọng, trong đó có hoạt động khuyến học bằng tinh thần.

Khuyến học bằng tinh thần thời Lê sơ - Ảnh 1.

Thời Lê, người đỗ đạt các kỳ thi được ghi danh trên bảng vàng, treo ở nơi trang trọng. Nguồn: Tư liệu sử

Khuyến học bằng tinh thần ở thời Lê sơ (1428-1527) là sự tiếp nối từ hoạt động khuyến học bằng tinh thần của thời Lý - Trần. Nhìn tổng thể, hoạt động khuyến học bằng tinh thần ở giai đoạn này diễn ra phong phú, có thể tóm lược lại được thể hiện rõ nét trên 4 phương diện như sau:

1. Nhà nước thường xuyên tổ chức các kỳ thi Tiến sĩ, lấy đây là lệ thường

Bắt đầu vào năm 1426, khi kinh thành Thăng Long đang bị quân Minh chiếm đóng nhưng Bình Định vương Lê Lợi đã cho mở khoa thi ở dinh Bồ Đề, chọn ra những người xuất sắc trong số hàng nghìn sĩ tử bốn phương đến yết kiến vua ở hành dinh. 

Đến năm 1429, bắt đầu mở khoa thi đầu tiên của bản triều, gọi là "Minh kinh", chọn ra người giỏi về kinh điển Nho giáo phục vụ cho đất nước. Từ năm này đến năm 1463, mở 8 khoa thi, khoảng cách giữa các khoa thi chưa đồng đều, thường là 2 năm, hoặc 6 năm, hoặc 7 năm. 

Từ năm 1463 đến năm 1526, bắt đầu đều đặn cứ 3 năm mở một khoa, tổng cộng là 22 khoa. Mỗi khoa thi ở giai đoạn này thường lấy nhiều người đỗ Tiến sĩ. Chẳng hạn như năm 1478, lấy đỗ 62 Tiến sĩ, trở thành khoa thi lấy nhiều người đỗ Tiến sĩ nhất ở nước ta trước đây.

Do thường xuyên tổ chức các kỳ thi Tiến sĩ, đặc biệt là việc đều đặn 3 năm mở một khoa thi, lấy người đỗ không hạn định đã tác động đến đời sống xã hội đương thời, nhất là với tầng lớp Nho sĩ, bởi họ đã được định hướng sẵn về thời gian thi Tiến sĩ, điều mà trước đây chưa thành tiền lệ, khiến họ phấn chấn trong học tập.

Cảnh Thi Hương thời Lê và việc thi cử thời Lê được chép trong sách sử. 

 

2. Vua ban quốc tính họ Lê và cho đổi tên đối với một số người đỗ Tiến sĩ

Ở giai đoạn này, do mỗi kỳ thi Đình hay còn gọi là thi Điện, người đỗ thi Hội được vua hỏi về kế sách trị nước, yên dân. Đây là dịp vua tiếp xúc trực tiếp với các vị Tiến sĩ trước khi ban cho họ học vị chính thức của kỳ thi Đình. Vì mến tài năng, hoặc do hình thức ưa nhìn, vua ban quốc tính ghi nhận trong sách Đăng khoa lục. Đó là các danh nhân:

- Nguyễn Đức Trung, người xã Cổ Dũng huyện Yên Dũng (nay là phường Cảnh Thụy tỉnh Bắc Ninh), đỗ Tiến sĩ năm 1481, được đổi sang họ Lê, thành Lê Đức Trung.

- Dương Bang Bản, người xã An Cự huyện Thanh Liêm (nay là xã Thanh Bình tỉnh Ninh Bình) đỗ Hoàng giáp năm 1484, được đổi tên thành Lê Tung. 

- Đào Công Thích, người xã Khúc Thủy huyện Thanh Oai (nay là thôn Khúc Thủy phường Phú Lương, thành phố Hà Nội), đỗ Hoàng giáp năm 1484, được đổi tên thành Lê Công Thích... 

Bên cạnh đó, cũng vì mến tài, 9 vị người được vua cho đổi tên để thành tên gọi mới, có ý nghĩa hơn. Đây không chỉ là niềm tự hào của người trong cuộc mà còn là để khích lệ tinh thần học tập cho sĩ tử đương thời.

- Dương Tông Mỗi, người xã Mi Sơn huyện Thủy Đường (nay là thôn My Sơn phường Thủy Hà, thành phố Hải Phòng), đỗ Hoàng giáp năm 1453, được đổi tên thành Dương Tông Hải.

- Đinh Cương, người xã Tiên Tảo huyện Bình Hà (nay là xã Hà Nam, thành phố Hải Phòng), đỗ Hoàng giáp năm 1496, thành Đinh Cường; Vũ Nghĩa Chi, người xã Trình Xá huyện Sơn Vi (nay là thôn Trình Xá xã Bản Nguyên tỉnh Phú Thọ), đỗ Trạng nguyên năm 1490, được đổ tên thành Vũ Duệ.

Khuyến học bằng tinh thần thời Lê sơ - Ảnh 4.

Bia tiến sĩ thời Lê còn lại đến ngày nay, hiện ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

3. Cho ghi tên vào sách Đăng khoa lục và dựng bia đề danh Tiến sĩ

Trước đó, vào thời Lý - Trần, danh tính người đỗ Thái học sinh (tương ứng với học vị Tiến sĩ về sau) phần nào được ghi trong chính sử là sách Đại Việt sử ký toàn thư. 

Đến giai đoạn này, đặc biệt trong niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), do đều đặn 3 năm mở một khoa thi Tiến sĩ, số người đỗ trở nên đông đảo, triều Lê sơ muốn tìm một phương thức lưu danh họ tên, quê quán của người đỗ Tiến sĩ. 

Sách Đăng khoa lục ra đời lần đầu tiên ở nước ta vào ngày 13 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư là theo tinh thần đó. 

Tuy nhiên, hiện chưa rõ sách Đăng khoa lục ở thời đó in mộc bản hay viết tay, mức độ phổ biến sâu rộng trong xã hội đến đâu nhưng tác dụng về khuyến học được Lê Quý Đông khẳng định là giúp "người ta có thể biết xã nào, huyện nào từng phát đạt người khoa bảng, để tự cố học tập".

Chưa dừng lại ở đây, triều Lê sơ còn cho dựng bia đề danh Tiến sĩ đặt tại Văn miếu Quốc Tử Giám Thăng Long. Lý do là vì: "ghi tên vào sổ sách [Đăng khoa lục] cất giữ ở triều đường dẫu tiện tra cứu vẫn chưa đủ để nêu rõ danh thanh.

Vì thế mới sai khắc đá dựng ở nhà Thái học, khiến cho khoa danh tên tuổi lưu tiếng thơm tới ngàn đời". Ý tưởng dựng bia đề danh Tiến sĩ có từ thời vua Lê Thái Tông (1434-1442). 

Vào năm 1442, khi bấy giờ vua cho mở khoa thi Hội, nhưng vì lý do nào đó đến thời Lê Thánh Tông mới thực hiện. 

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Giáp Thìn năm thứ 15 (1484)..., ngày 15, dựng bia có bài ký ghi tên các Tiến sĩ từ khoa thi Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3 vua Thái Tông triều ta đến nay. Vua cho là từ năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông đến giờ, việc dựng bia đề danh Tiến sĩ các khoa vẫn chưa làm được, sai Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo biên rõ họ tên, thứ bậc các Tiến sĩ từ khoa thi Nhâm Tuất năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông... đến khoa Giáp Thìn năm nay, khắc vào bia đá".

Loạt bia đề danh Tiến sĩ thời Lê sơ dựng năm 1484 gồm 10 bia, hiện còn 7 bia, với mục đích không gì khác là để khuyến học bằng tinh thần cho kẻ sĩ. Vì rằng nói như Thân Nhân Trung, khi ông soạn bài văn cho khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442): "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi trọng việc giáo dục nhân tài làm công việc cần kíp".

Khuyến học bằng tinh thần thời Lê sơ - Ảnh 5.

Cảnh võng lọng vinh quy bái tổ khích lệ các sĩ tử lên đường đi thi.

4. Tổ chức long trọng việc vinh quy bái tổ

Hình thức này vốn được đề cập ở thời Trần, vào khoa thi Thái học sinh năm 1304, với 3 vị đỗ đầu của khoa thi năm đó được triều đình cho đi dạo, ngắm phố phường Thăng Long trong 3 ngày. Bắt đầu từ năm 1442, triều đình một mặt giữ nguyên lệ cũ, mặt khác làm tăng trọng thể, cấp ngựa tốt đưa về quê làm lễ vinh quy bái tổ.

Lệ vinh quy bái tổ có tác dụng đương thời, khiến nhiều người sinh lòng hâm mộ để sau đó trở thành nhà khoa bảng, đỗ đạt cao. 

Có thể nêu trường hợp của vị Hoàng Văn Tán, người xã Xuân Lôi huyện Vũ Ninh (nay là thôn Xuân Bình phường Nhân Hòa tỉnh Bắc Ninh) là ví dụ tiêu biểu.

Mẹ ông đi chợ ở làng Thị Cầu, thấy vị Tiến sĩ làng Kim Đôi vinh quy bái tổ, bà đem chuyện kể với con. Bấy giờ Hoàng Văn Tán còn nhỏ, ông nói với mẹ nếu được đi học thì sẽ đỗ cao hơn vị Tiến sĩ kia. Về sau ông được đi học, sớm tối chăm lo đèn sách, đỗ Trạng nguyên khoa Quý Mùi, niên hiệu Thống Nguyên năm thứ 2 (1523), đời vua Lê Cung Hoàng, trở thành 1 trong 46 vị Trạng nguyên ở nước ta.


Tạp chí Công dân và Khuyến học

Tin đọc nhiều