Cổng thông tin điện tử
Hội khuyến học Việt Nam
Hội khuyến học Việt Nam
Saturday, 28/03/2026

Các tin khác

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Kinh tế Xanh: Yếu tố cốt lõi của quốc gia thịnh vượng

Cổng TTĐT Hội Khuyến học Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS.TS Phạm Tất Dong cung cấp cái nhìn toàn diện về kinh tế xanh, từ nguồn gốc lịch sử đến các định nghĩa chuẩn mực của các tổ chức quốc tế, đây là mô hình phát triển dựa trên việc giảm phát thải carbon, sử dụng tài nguyên hiệu quả và đảm bảo công bằng xã hội.

 

I. Xuất xứ và lộ trình phát triển toàn cầu của Kinh tế xanh.

Năm 1962, Rachel Carson cho ra mắt cuốn sách “Mùa xuân vắng lặng”. Trong tác phẩm đó, tác giả cảnh báo thuốc trừ sâu đang làm ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, con người sẽ gặp không ít hiểm họa của loại thuốc này.

Mười năm sau, năm 1972, Hội nghị Liên Hợp Quốc về “Môi trường - Con người” tại Stockholm (Thụy Điển) đã tập trung thảo luận về môi trường quốc tế.

Năm 1989, khái niệm “Kinh tế Xanh” (Green Economy) lần đầu tiên xuất hiện trong Báo cáo của Chính phủ Anh với tiêu đề “Blueprint for a Green Economy” (Kế hoạch tổng thể cho nền Kinh tế xanh). Báo cáo nói sâu về tác động tích cực của kinh tế xanh đến sự phát triển bền vững của xã hội. Sau báo cáo này, Chính phủ Anh có thêm một báo cáo về “Xanh hóa nền kinh tế thế giới” (1991) và “Đo lường sự phát triển bền vững” (1994).

Năm 2008, thế giới phải đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng về khí hậu, đa dạng sinh học, nhiên liệu, lương thực, và nghiêm trọng nhất là khủng hoảng tài chính. Nhân loại bắt đầu ngộ rõ hơn những tác hại nguy hiểm của nền kinh tế nâu hóa (Brown Economy). Năm 2012, Hội nghị Rio+ 20 (Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững họp tại Rio de Janeiro, Brazil), kỷ niệm 20 năm Hội nghị Trái Đất năm 1992. Chủ đề chính trong thảo luận tại Hội nghị  là phát triển kinh tế xanh để đối đầu với những thách thức toàn cầu. Hội nghị nhấn mạnh rằng, kinh tế xanh có vai trò rất quan trọng trong việc định hình lại cách phát triển kinh tế để tạo ra một tương lai tươi sáng hơn. Hội nghị coi trọng vai trò của cá nhân trong việc góp phần vào sự thành công của kinh tế xanh.

Hội nghị Rio+ 20 đã xuất bản một tài liệu có tên là “Tương lai mà chúng ta mong muốn”, kêu gọi các quốc gia áp dụng các chính sách kinh tế xanh phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo.

Sau Hội nghị này, kinh tế xanh được hiểu một cách thống nhất như sau:

“Kinh tế xanh là nền kinh tế có mức phát thải carbon thấp, sử dụng tài nguyên hiệu quả và bao trùm về xã hội. Mục tiêu cốt lõi của kinh tế xanh là cải thiện đời sống con người và tài sản xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và sự khan hiếm tài nguyên sinh thái”.

 Từ thời điểm đó, kinh tế xanh không còn là một khái niệm trừu tượng, mà trở thành một định hướng chiến lược quan trọng, được tích hợp vào các chính sách phát triển quốc gia và quốc tế; mục tiêu phát triển kinh tế xanh là một tương lai bền vững hơn.

II. Định nghĩa “Kinh tế xanh”

1. Định nghĩa của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP).

Kinh tế xanh là nền kinh tế mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái”.

Nếu thao tác hóa khái niệm trên đây, ta thấy có 3 số đo (3 nội dung có thể đánh giá về lượng):

- Giảm thải khí nhà kính (ít carbon);

- Sử dụng tài nguyên hiệu quả (Khai thác và sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hợp lý).

- Đem lại lợi ích một cách công bằng cho mọi người (bao trùm xã hội).

2. Định nghĩa của Wikipedia tiếng Việt

Kinh tế xanh là mô hình phát triển bền vững, lồng ghép các yếu tố môi trường vào tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu là giảm thiểu rủi ro môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả, phát thải thấp (ít carbon), nâng cao đời sống xã hội mà không gây suy thoái hệ sinh thái”.

Định nghĩa trên cho thấy mấy đặc trưng của kinh tế xanh:

- Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

- Hạn chế ô nhiễm, giảm rác thải, phát thiểu carbon, ngăn chặn sự mất đa dạng sinh học.

- Tăng trưởng kinh tế song song với việc làm, tạo việc làm xanh, cải thiện sinh kế, đảm bảo công bằng xã hội.

3. Tập đoàn công nghệ thông tin Việt Nam (Misa) với cách hiểu về kinh tế xanh

Họ không đưa ra định nghĩa, mà chỉ nêu lên đặc điểm của kinh tế xanh và 5 nguyên tắc khi tiến hành kinh doanh với tinh thần bảo đảm phát triển kinh tế xanh qua công việc

a. 4 đặc điểm của kinh tế xanh cần nắm chắc

- Phát triển bền vững là định hướng chủ yếu trong phát triển kinh tế xanh.

- Thân thiện với môi trường.

- Tối ưu hóa và tái sử dụng tài nguyên.

- Tạo việc làm xanh, bảo đảm công bằng.

b. 5 nguyên tắc cốt lõi khi thực hành kinh tế xanh

- Khai thác tài nguyên hợp lý và tiết kiệm.

- Phát triển kinh tế không được đổi bằng ô nhiễm môi trường.

- Kinh tế xanh đi kèm với công bằng và hòa nhập xã hội.

- Phát triển xanh phải được lồng ghép trong mọi chiến lược và quy hoạch phát triển quốc gia.

- Đổi mới sáng tạo là động lực giúp kinh tế trở nên khả thi và hiệu quả.

III. Những quốc gia có nền kinh tế xanh rất đáng để Thế giới tham khảo

1. Bhutan - “Thiên đường xanh”

Bhutan là 1 quốc gia nhỏ, dân số > 800.000 người, GDP/đầu người: 4.285 USD (2025), tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 6,8% (2025) - đây là quốc gia không giàu có, nhưng những ai đã đến xứ sở này đều khẳng định, vùng đất cao ở đây là “Thiên đường Xanh” rất đáng sống.

Bhutan chủ trương xây dựng một quốc gia xanh với nền kinh tế xanh được xây dựng trên 5 trụ cột chính:

Trụ cột 1: Carbon âm tính

- Mức phát thải carbon âm trong nhiều năm liền. Nhờ chính sách quản lý chặt chẽ đối với rừng, hạn mức là 60% đất đai phải được rừng bao phủ, nhưng dân Bhutan đã thực hiện vượt mức chỉ tiêu này (hiện rừng che phủ 72% diện tích đất nước). Với diện tích rừng như vậy, lượng CO2 được hấp thụ lớn hơn lượng phát thải.

- Rừng nguyên sinh ở Bhutan được gọi là “Bể chứa carbon khổng lồ”, cô lập hàng triệu tấn CO2 mỗi năm.

- Chính phủ Bhutan chỉ đạo nhân dân chủ động trồng cây và phục hồi kịp thời những vùng đất thoái hóa.

Trụ cột 2: Năng lượng tái tạo

- Nguồn điện chính: Thủy điện. Nguồn năng lượng sạch này dân Bhutan dùng không hết, đã xuất khẩu sang Ấn Độ, tạo nguồn thu lớn cho ngân quỹ quốc gia.

- Bhutan đẩy mạnh phát triển năng lượng mặt trời. Dự án Sephu Solar dự tính đạt mục tiêu 1.000MV vào năm 2030.

- Dân Bhutan còn sử dụng nhiều năng lượng tái tạo khác như điện gió, hầm biogas...

Trụ cột 3: Nông nghiệp hữu cơ bền vững

- Giảm thiểu phân bón và thuốc trừ sâu tổng hợp.

- Khuyến khích dùng phân hữu cơ, bảo đảm thực phẩm sạch, môi trường an toàn.

Trụ cột 4: Giao thông xanh

- Dùng xe điện để giảm thiểu khí thải carbon.

- Dùng tiền điện tử xanh.

- Khai thác Bitcoin bằng năng lượng thủy điện dư thừa, tối ưu hóa nguồn năng lượng.

Trụ cột 5: Du lịch bền vững

Thực hiện mô hình du lịch “ít nhưng chất lượng cao”, tạo nguồn thu lớn cho quốc gia.

2. Thụy Sĩ - Nơi chuyển đổi số xanh mạnh mẽ

Với sự đánh giá xếp hạng Quốc gia Xanh theo bảng “chỉ số thành tích môi trường” (Environmental Performance Index - EPI), vào năm 2020, Thụy Sĩ được xếp hạng cao nhất. Thành tích xây dựng nền kinh tế xanh của quốc gia này thể hiện ở mấy đặc điểm sau đây:

  • Dẫn đầu về bền vững môi trường

Diễn đàn kinh tế thế giới đã khẳng định rằng, Thụy Sĩ là nơi giải quyết các vấn đề môi trường tốt nhất trên thế giới. Đặc biệt là, họ có những đô thị xanh thông minh mà điển hình là thủ phủ Zurich trở thành “Green city” (thành phố Xanh) tại khu công nghiệp cũ Sihl - Manegg, nơi sử dụng 100% năng lượng tái tạo, 70% điện tử quang điện mái nhà, hệ thống điện lưới thông minh, giếng nước ngầm/ địa nhiệt cho sưởi và làm mát.

  • Hạn chế xe hơi và tổ chức giao thông sạch.

 Tại nhiều thành phố ở Thụy Sĩ, người ta hô hào người dân sử dụng xe đạp khi đi làm việc trong phạm vi khoảng cách từ nhà ở đến trụ sở làm việc không quá xa. Mạng lưới xe điện công cộng ở Thụy Sĩ dày đặc, rất thuận lợi cho giao thông.

  • An toàn về tài nguyên nước.

Thụy Sĩ được đánh giá cao về độ sạch của tài nguyên nước và tính bền vững của sức khỏe môi trường. Toàn bộ nước thải đô thị được xử lý nghiêm ngặt. Toàn bộ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt chỉ được dẫn vào các hồ và sông khi đạt chuẩn an toàn. 80% hồ nước ở Thụy Sĩ có thể uống ngay mà không cần phải đun sôi.

  • Xử lý các rác thải nghiêm ngặt.

Ở Thụy Sĩ, những rác thải không đốt cháy được thì không được mang chôn lấp. Các loại rác thải không tuần hoàn được cũng theo quy định này. Các loại chai lọ chứa đựng các chất khác nhau thì không được xếp chung để phân loại xử lý theo cách riêng. Trên hè phố, ta thấy họ xếp nhiều loại thùng rác, không cho phép thùng rác chứa chung các loại rác thải.

3. Phần Lan - Quốc gia tiên phong về công nghệ sạch

Phần Lan nổi tiếng trên toàn cầu về phát triển kinh tế Xanh thông qua Cleantech (công nghệ sạch), năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn. Họ đi đầu trong việc đề ra những giải pháp chống biến đổi khí hậu, xử lý nước thải, trung hòa carbon và đưa quốc gia thành trung tâm năng lượng xanh của Bắc Âu.

  • Chú trọng xây dựng các cộng đồng dân cư xanh.

Nhiều cộng đồng dân cư ở Phần Lan trở thành những vùng xanh (Green Zone). Một thị trấn nhỏ ở Bắc Phần Lan, gần bờ biển Baltic được coi là cộng đồng xanh nhất thế giới. Hầu hết người lớn và trẻ em nơi đây đều tích cực tham gia các hoạt động làm giảm thiểu khí thải CO2. Từ 2015 đến nay, tỷ lệ giảm thiểu CO2  đã đạt 80%.

  • Ưu điểm bảo tồn rừng và động vật hoang dã.

Phần Lan bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng vốn có, chiếm tới 70% diện tích đất đai cả nước. Họ có tới 37 khu rừng quốc gia, nơi thu hút mạnh nhất khách du lịch trên thế giới. Vùng rừng của Phần Lan thường là nơi có không khí trong lành, không gian tĩnh mịch, những rừng lá kim và đầm lầy lớn. Họ có những hồ nước ngọt và hệ sinh thái động vật đặc trưng.

Những động vật quý hiếm của Phần Lan là Gấu nâu (Brown bear) - chúa tể rừng xanh; Thiên nga lớn (Whooper Swan) - một biểu tượng của đời sống hoang dã; Hải cẩu Saimaa (Pusa hispida saimensis) - loại hải cẩu nước ngọt; Nai sừng tấm (Alces alces) và Tuần lộc.

  • Phát triển kinh tế tuần hoàn.

Phần Lan coi kinh tế tuần hoàn là một hoạt động trong chiến lược hướng tới xã hội trung hòa carbon và ngăn chặn suy thái sinh học.

Tại các trung tâm thương mại lớn, người ta có rất nhiều cửa hàng đồ cũ (secondhand) nhằm kéo dài vòng đời của nhiều loại sản phẩm, giảm thiểu rác thải và thực hiện kinh tế chia sẻ.

 Những nguyên liệu được nền sản xuất ở Phần Lan tái chế là các loại bao bì thực phẩm (hộp sữa chua, bao bì bánh kẹo, khay đựng thịt, chai nhựa chứa đựng dầu gội...), chai lọ thủy tinh đựng thực phẩm và đựng mỹ phẩm, rác thải nhựa chế biến thành ván xây dựng v.v...

  • Đưa nội dung bảo vệ khí hậu vào dạy trong trường.

 Ngay từ bậc tiểu học, người ta đã dạy trẻ em thực hiện những kỹ năng tiết kiệm nước, không xả rác, biết tự dọn dẹp vệ sinh trường lớp. Tiền tiết kiệm từ những hoạt động đó được dùng vào nhiều việc có ích như mua đồ đồ chơi cho trẻ em, mua hạt giống cây cỏ để học sinh trồng trọt trong vườn trường và vườn nhà.

4. Singapore - nơi sẽ có những tòa nhà năng lượng siêu thấp.

 Kinh tế xanh ở Singapore là chiến lược quốc gia trọng tâm, hướng tới phát thải dòng bằng 0 vào năm 2050 thông qua kế hoạch xanh Singapore 2070. Họ tập trung vào năng lượng tái tạo, công trình xanh (hơn 49% diện tích sàn), tài chính xanh, thị trường tín chỉ carbon và công nghệ bền vững, biến thách thức biến đổi khí hậu thành cơ hội tăng trưởng mới.

Mục tiêu chính của kinh tế xanh ở Singapore gồm:

- Đạt mức phát thải rằng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.

- Đến năm 2030, 80% công trình mới là các tòa nhà năng lượng siêu thấp.

- Tăng gấp bốn lần năng lượng mặt trời lên ít nhất 2GWp.

Có 5 trụ cột chính của kinh tế xanh Singapore:

  • Tài chính xanh và thị trường carbon: Singapore định vị thành trung tâm tài chính xanh và giao dịch tín chỉ carbon khu vực.
  • Xây dựng các công trình theo chuẩn Green Mark, buộc việc xây dựng công trình mới và cải tạo công trình cũ phải tuân thủ chủ trương xanh hóa.
  • Chuyển đổi năng lượng và công nghệ, đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo, hạ tầng hydrogen... để giảm phụ thuộc vào dầu khí.
  • Thuế carbon: Áp dụng và nâng mức thuế carbon để thúc đẩy các doanh nghiệp giảm phát thải.
  • Chuyển đổi nghề nghiệp: Đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực theo chương trình huấn luyện, bồi dưỡng cho các ngành năng lượng sạch, tài chính xanh, quản lý bền vững (Chương trình Green Skills).

5. Đặc trưng chung của các quốc gia đang phát triển mạnh kinh tế xanh.

 Nói đến phát triển kinh tế xanh, chúng ta không thể không nhắc tới Thụy Điển, Na Uy, Iceland, Đan Mạch, Đức, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Trung Quốc v.v... Mỗi quốc gia này đều có những mô hình kinh tế xanh riêng biệt. Song, khái quát lại, ta có thể thấy họ có một số đặc trưng chung trong sự chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, mô hình kinh tế tuần hoàn và tài chính xanh.

 Những đặc trưng cốt lõi:

- Chuyển đổi năng lượng sạch: Ưu tiên phát triển năng lượng gió, mặt trời và điện hạt nhân, thay thế nhiên liệu hóa thạch.

- Kinh tế tuần hoàn (Circular Economy): Tập trung vào tái chế, tái sử dụng và kiểm soát chất thải để tối ưu hóa tài nguyên.

- Hoạch định chính sách hợp lý, bền vững, chặt chẽ: Thiết lập khung pháp lý vững chắc, quy định rõ ràng về phát thải và thúc đẩy đầu tư vào công nghệ công xanh.

- Tài chính xanh, tín dụng xanh: Tăng cường huy động dòng vốn vào các dự án hạ tầng xanh, sản xuất thân thiện với môi trường.

- Đổi mới công nghệ xanh: Áp dụng các giải pháp sản xuất thân thiện với môi trường.

- Định hướng chiến lược quốc gia rõ ràng: Các chính phủ đều có sự cam kết phát triển kinh tế xanh là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn.

- Xây dựng lối sống xanh: Ngay từ khi còn là trẻ thơ, con người đã được xây dựng lối sống xanh, thể hiện ở tư duy xanh, các kỹ năng xanh và lối tiêu dùng xanh.

IV. Việt Nam phát triển kinh tế xanh.

Ngày 1/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1658/QĐ-TTg, phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050”. Mục tiêu tổng quát của Quyết định này là tái cấu trúc nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đạt được sự thịnh vượng kinh tế, bền vững môi trường và công bằng xã hội. Chiến lược này hướng tới một nền kinh tế xanh, trung hòa carbon, góp phần hạn chế sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.

Tháng 1/2026, Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt vấn đề Kinh tế xanh với những yêu cầu sau đây:

1. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Kinh tế xanh được xác định là một trong những định hướng chiến lược quan trọng của mô hình tăng trưởng mới, cấu trúc lại toàn diện các ngành, các lĩnh vực và các không gian phát triển theo hướng xanh, bền vững.

2. Phát triển kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế tuần hoàn được coi là một bộ phận quan trọng, thiết yếu của kinh tế xanh; được xem là cách tiếp cận tổng thể, bao trùm từ thiết kế sản phẩm, tổ chức sản xuất, tiêu dùng bền vững, tái chế, tái sử dụng, kéo dài vòng đời tài nguyên.

3. Gắn liền phát triển bền vững với nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Kinh tế xanh gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát khí thải nhà kính.

4. Hoàn thiện thể chế và chính sách

Hoàn thiện thể chế và chính sách để phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, thiết lập sàn giao dịch tín chỉ carbon nội địa. Huy động tối đa nguồn lực quốc tế, đầu tư mạnh vào công nghệ xanh, hướng tới phát thải dòng bằng 0 vào năm 20250.

Tính đến hết tháng 12/2025, kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam đã mang lại một số kết quả sau đây:

a. Sản phẩm tái chế và tái sử dụng.

  • Vật liệu xây dựng: Gạch Tuynel công nghệ cao được sản xuất từ phế liệu đất bốc thải từ mỏ, gạch vỡ, bê tông phá dỡ.
  • Bao bì: Nestle Việt Nam sử dụng bao bì đơn lớp giúp quá trình tái chế dễ dàng hơn, hướng tới sử dụng bao bì tái chế.
  • Unilever Việt Nam sử dụng hạt nhựa tái sinh để sản xuất chai nhựa mới với các nhãn như Sunlight, Lux, Vim, Comfort sử dụng 100% nhựa tái sinh.
  • Sản phẩm từ rác thải công nghiệp: Rơm rạ làm thức ăn cho gia súc, sản xuất nấm rơm hoặc lấy rơm làm vật liệu xây dựng; Tận dụng bẹ ngô, thân chuối làm hàng thủ công mỹ nghệ; Dùng bã cà phê làm một số mặt hàng như mũ, giày, dép, ly chén uống nước, chai lọ, xà phòng tẩy da chết. Tái chế giấy đã qua sử dụng. Ở Minh Khai (Hưng Yên) có làng nghề sản xuất đồ nhựa và nilông tái chế.

b. Các sản phẩm của ngành công nghiệp môi trường.

  • Năng lượng tái tạo: Tấm năng lượng mặt trời, nhiên liệu sinh học, năng lượng gió.
  • Thiết bị xử lý ô nhiễm: Hệ thống xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn, thiết bị quan trắc môi trường.
  • Làm bao bì từ vật liệu dễ phân hủy hoặc có thể tái chế nhiều lần, thay thế túi nilông và những sản phẩm nhựa dùng một lần.

c. Các sản phẩm nông nghiệp tuần hoàn.

  • Mô hình vườn - ao - chuồng (VAC) và các biến thể có bổ sung thu hồi khí từ vật nuôi dạng hầm Biogas.
  • Phân hữu cơ: Bùn thải không gây nguy hại từ sản xuất cà phê sau xử lý để dùng làm phân bón hữu cơ; Làm phân bón từ thân cây sắn, cây ngô, các loại rác thực vật...

d.  Xây dựng các vùng xanh (Blue zone).

  • Nhiều đề án xây dựng, quy hoạch vùng xanh đã được triển khai như Ecovillage Saigon River (thành phố Hồ Chí Minh), Cầu Đất (Đà Lạt).
  • Xây dựng được trên 300 công trình xanh với những thiết kế thông minh, giảm tiêu thụ năng lượng và khí thải CO2 như Trụ sở Tập đoàn Viettel (Hà Nội), F.Town 3 -FPT Software (Thành phố Hồ Chí Minh), Techno Park Tower (Hà Nội), Trường Quốc tế Concordia (Hà Nội)...

e. Xây dựng hệ thống giáo dục xanh (Green Education).

  • Xây dựng những nhà trường xanh với 3 yêu cầu: cơ sở vật chất kỹ thuật thân thiện với môi trường, xây dựng chương trình giáo dục xanh và gắn trường học với cộng đồng xanh.
  • Những trường học xanh điển hình ở Việt Nam hiện nay là Trường liên cấp “Mẫu giáo - Trung học cơ sở” Genesis Tây Hồ (Hà Nội), Trường Quốc tế Việt Úc (thành phố Hồ Chí Minh), hệ thống Trường xanh Tuệ Đức (Hải Phòng), trường Tiểu học Tô hiến Thành (Cần Thơ), trường Đại học Trà Vinh...
  • Việt Nam đang mở rộng chương trình “Trường học xanh”: Từ năm học 2023 - 2024, Đà Nẵng thúc đẩy xây dựng mô hình “Trường học xanh giảm thiểu rác thải”; Năm 2025, có trên 1.000 trường trung học trên cả nước tham gia chương trình “Phủ xanh trường học”. Tại Hà Nội, năm 2025 có khoảng 70% trường học triển khai chương trình “Trường học Xanh”.
  • Trong tiêu chí “Trường học hạnh phúc” có nội dung xanh hóa nhà trường. Cuộc bình chọn “Trường học hạnh phúc 2024” đã chọn khoảng 500 trường học hạnh phúc để ghi danh. Chương trình “Vì tầm vóc Việt” đã khởi động dự án “Trường học hạnh phúc” ở Sơn La, Nghệ An, Lào Cai...

g. Xây dựng thành phố học tập

“Thành phố học tập” là một khái niệm Mở, có thể coi là “Thành phố xanh” vì yêu cầu bắt buộc là khởi tạo cuộc sống xanh đô thị bao gồm:

  • Đường phố phải có hàng cây bóng mát, mỗi khu phố đều phải có những vườn cây nhỏ.
  • Tạo không gian xanh trong từng căn hộ (trồng cây trên ban công, trong chậu, làm vườn rau trên sân thượng...).
  • Tiến hành các dịch vụ thực phẩm sạch, phong cách ăn uống lành mạnh, hợp vệ sinh, tăng cường sức khỏe con người.
  • Cải tạo các khu dân cư chật chội, thiếu điều kiện vệ sinh gia đình, xóa bỏ khu ổ chuột.

Những đô thị, thành phố xanh ở Việt Nam hiện nay là Huế, được Quỹ Bảo tồn thiên nhiên (WWF) vinh danh là “Thành phố xanh quốc gia”. Ecopark (Hà Nội) được đánh giá là khu đô thị xanh nhất Việt Nam, chất lượng không khí tương đương với New Zealand. Swan Park (Đông Sài Gòn), đô thị Phú Mỹ Hưng (thành phố Hồ Chí Minh)và thành phố Trà Vinh đã được xếp vào danh sách “thành phố xanh” ở Việt Nam (trước khi sáp nhập vào Vĩnh Long).

 Ở Việt Nam, UNESCO đang khuyến khích xây dựng “Thành phố học tập toàn cầu”. Tính đến cuối tháng 12/2025, Việt Nam đã có 6 thành phố trở thành thành viên của mạng lưới này: Vinh, Sa Đéc, Cao Lãnh, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Những vùng đô thị này đã có nhiều nỗ lực để “Xanh hóa” đời sống nhân dân trong nhiều năm qua.

 Sau Đại hội XIV của Đảng trong giai đoạn 2026 - 2031, kinh tế xanh ở Việt Nam sẽ có những bước phát triển mới theo các hướng sau đây:

1. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ truyền thống sang bền vững, tập trung vào kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp.

2. Hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý đồng bộ để phát triển kinh tế xanh.

3. Đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, làm động lực phát triển kinh tế xanh.

4. Phát triển mạnh nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn; đẩy mạnh sản xuất công nghiệp sạch, xây dựng các khu công nghiệp sinh thái, tuần hoàn.

5. Tài chính - ngân hàng nâng cao vai trò và trách nhiệm thúc đẩy kinh tế xanh qua phân bố và huy động nguồn lực.

6. Chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng tái tạo (điện mặt trời, thủy điện, điện gió, điện sinh thái).

7. Phát triển nguồn nhân lực và văn hóa cho kinh tế xanh: Nguồn nhân lực có các kỹ năng vận hành kinh tế xanh và văn hóa xanh là sức mạnh nội sinh, là động lực thúc đẩy kinh tế xanh trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.


GS.TS Phạm Tất Dong

Tin đọc nhiều