Ký ức về “Hành trình đi tìm con chữ”
Cổng TTĐT Hội Khuyến học Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Nguyễn Văn Long về hành trình vượt khó tìm chữ từ vùng quê nghèo Hải Phòng đến khi trở thành một nhà giáo tại miền Trung. Qua ký ức về bến đò xóm Giá lạnh lẽo và những năm tháng chiến tranh gian khổ, tác giả tôn vinh tình yêu thương của gia đình, sự tận tụy của thầy cô cùng sự sẻ chia của bạn bè đã giúp ông thay đổi số phận. Những kỷ niệm sâu sắc đó đã trở thành động lực mạnh mẽ thôi thúc ông cống hiến cho công tác khuyến học sau khi nghỉ hưu nhằm nâng bước cho các thế hệ học trò nghèo.
Chuyến xe của Hội Khuyến học thành phố đưa tôi cùng những người đồng nghiệp về một vùng quê nghèo miền núi ở Đà Nẵng vào buổi chiều cuối tuần nắng nhạt. Nhìn qua cửa kính, những nếp nhà nằm lặng lẽ bên sườn núi của dãy Trường Sơn hùng vĩ gợi lên trong tôi một cảm giác bình yên nhưng cũng đầy trăn trở. Khi bước xuống xe, hình ảnh những em thơ trường làng với gương mặt sạm nắng, tà áo mỏng manh run lên trước gió lúc bước lên nhận học bổng làm lòng tôi bỗng chùng xuống một nhịp rất khẽ khàng.
Đà Nẵng và Quảng Nam là vùng đất của truyền thống hiếu học, nơi từng làm rạng danh khoa bảng với “Ngũ phụng tề phi”, với những bậc hiền tài được người đời nhắc đến như “Tứ kiệt”, “Tứ hổ”…; nơi cái chữ luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong mỗi gia đình dù nghèo khó đến đâu. Nhìn các em, tôi thấy lại khí chất của những học trò xứ Quảng, dẫu cơm ăn chưa đủ no nhưng đôi mắt lúc nào cũng rạng ngời một khát vọng được học hành, vươn đến những tầm cao tri thức chân chính. Khi trao tận tay một em nhỏ phần quà và chạm vào bàn tay thô ráp ấy, tôi chợt thấy bóng hình mình của hơn nửa thế kỷ trước hiện về rõ mồn một. Ký ức như một dòng chảy không ngừng, đưa tôi vượt thời gian trở về với những ngày đông giá buốt vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước trên bến đò xóm Giá quê ngoại. Đó là một làng quê nghèo vùng ngoại ô thành phố Hải Phòng nằm bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, nơi ông cha ta từng “cắm cọc gỗ xuống lòng sông” để ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc.

"Lớp 5 dưới lòng đât" - Ngô Tôn Đệ vẽ chì năm 1967. (Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
Mùa đông năm sáu chín ở Gia Đức lạnh đến thắt lòng. Cái lạnh không chỉ đến từ gió mùa đông bắc rít qua rặng sú vẹt nơi triền đê, mà qua làn áo mỏng như thấm vào da thịt từ màn sương muối đặc quánh phủ trắng xóa cánh đồng. Trong ánh lờ mờ của buổi sớm mai, khi tiếng mưa rơi trên mái tranh chưa dứt và mọi người còn đang ngủ ngon trong chăn ấm, tôi khi ấy mới mười tuổi đã nghe tiếng mẹ khẽ khàng lay gọi bảo tôi dậy đi học cho kịp chuyến đò sớm. Tôi quờ tay lấy chiếc cặp cũ chứa đựng những giấc mơ về chữ nghĩa, vội bước ra khỏi nhà rồi sục chân vào lớp bùn lầy lội của lối ngõ quê nghèo. Một mình lầm lũi đi bộ gần mười cây số để tới trường, vượt qua khu Đầm Mới vắng lặng, qua núi Cống Ỏn âm u đến rợn người, qua hai con đò Xóm Giá và đò Tràng Kênh, rồi theo con đường đất lầy lội quanh co ven núi của mỏ đá Tràng Kênh. Có những sớm mai mưa dông và gió lớn xô mạnh khiến tôi trượt chân ngã lăn dài trên triền đê, bùn đất lấm lem cả vào cặp vở. Nhưng khi nghĩ về thầy cô cùng bè bạn nơi phía trường xa, tôi lại lồm cồm bò dậy, vượt mưa gió băng mình về phía trước để kịp tới lớp đúng giờ.
Giữa những nhọc nhằn ấy, quê ngoại trong tôi còn là hơi ấm từ gian bếp của Bà Ngoại Khiêm. Bà tôi là người theo đạo Công giáo hiền lành, cả đời cần mẫn bốc thuốc Nam cứu người. Bà thường bảo rằng chữ nghĩa là ngọn đèn và khuyên tôi phải ráng mà học để đời mình sáng sủa hơn. Lời dặn của bà cứ thế thấm sâu vào máu thịt, nuôi dưỡng tâm hồn tôi qua những mùa Tết quê nghèo nồng đượm mùi khói bếp bên nồi bánh chưng đêm giao thừa.
Tuổi thơ tôi dẫu gian khó nhưng chưa bao giờ thiếu vắng niềm vui. Đó là những trưa hè giúp ba mẹ đi lượm củi khô ngoài bờ bãi ven sông, hoặc cùng bạn bè trong làng đi hái rau và vớt rong trong khu Đầm Mới về nuôi lợn. Đó còn là những chiều cùng đám bạn trong xóm nhóm củi khô, đốt lửa nướng sắn cùng ăn trên triền đồi cao cỏ cháy, vừa ăn vừa ngắm nhìn về phía trung tâm thành phố với ước ao học hành giỏi giang để mai này lớn lên được đi đây đi đó. Khi tiếng còi báo động máy bay Mỹ vừa dứt, chúng tôi lại tụ tập bên sân đình làng Tràng Kênh chơi đánh khăng, đánh đáo hay ô ăn quan quên cả thời gian.

“Bác Hồ thăm lớp vỡ lòng” - Đỗ Hữu Huề (Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
Đặc biệt nhất trong ký ức tôi là những mùa lễ hội sau Tết Nguyên đán với làn điệu hát đúm vang vọng cả triền sông. Hình ảnh những trai thanh nữ tú nhún nhảy vươn mình bay theo nhịp đu làm bằng tre, tà áo nhiều sắc màu chấp chới bay trên nền trời Xuân dịu ngọt là một thước phim đẹp đẽ mà đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in. Những kỷ niệm tuổi thơ ấy thanh bình như một bản nhạc đệm trong trẻo, nằm giữa khúc ca hào hùng của cuộc chiến đấu bảo vệ vùng trời thành phố Cảng.
Ngày ấy, leo lên ngọn cây ổi sau vườn, tôi kinh hoàng chứng kiến những cột khói đen đặc bốc cao, như những vệt sẹo nhức nhối trên bầu trời Hải Phòng. Ba mẹ nói là do tàu chở dầu của Liên Xô tài trợ cho ta ở Bến Bính vừa bị trúng bom. Từ quê ngoại nhìn qua bên kia sông Bạch Đằng trong những ngày chiến tranh ác liệt, nhà máy nhiệt điện Uông Bí liên tiếp bị máy bay Mỹ bắn phá, nhưng khí thế của người dân quê tôi vẫn không hề nao núng. Tôi vẫn nhớ như in lần Ba tôi, một người cán bộ miền Nam tập kết kiên cường, cùng bà con làng xóm cầm dao, cầm rựa chạy phăm phăm ra bến sông gần cầu Đá Bạc bây giờ để vây bắt phi công Mỹ nhảy dù khi máy bay bị bộ đội ta bắn rơi. Chính sự bao bọc của cha mẹ và tinh thần hào sảng của quê hương đã rèn cho tôi niềm tin lạc quan mãnh liệt vào ngày mai thắng lợi.

Những hình ảnh ký ức Hải Phòng (Ảnh: Lao động)
Hành trình đi tìm con chữ của tôi sẽ chẳng thể trọn vẹn nếu thiếu đi những tấm lòng bao bọc của thầy cô và bạn bè. Tôi nhớ Vũ Văn Tới, người bạn nghèo bên xóm tôi trọ học khi tôi ở nhờ nhà bà Lôm. Gia đình đông con và vất vả vô cùng, nhưng mỗi tối ôn bài dưới ánh trăng, Tới lại nhường cho tôi phần ăn chiều quý giá, một ổ bánh mì nóng hổi. Và làm sao quên được hình ảnh cô giáo Hoa, người giáo viên trẻ với ánh mắt sáng và rất tận tụy với học trò, đã thương yêu giúp đỡ và luôn khích lệ tôi đi hết con đường học hành. Sau những ngày tôi nằm bẹp vì trận sởi nặng, chính cô đã tranh thủ giờ trống để kèm riêng tôi học. Hay buổi chiều cô đặt vào tay tôi bộ quần áo mới do bạn bè trong lớp quyên góp mua tặng khi biết tôi bị kẻ gian lấy trộm đồ trước kỳ ôn thi tốt nghiệp, cùng lời dặn khẽ khàng rằng tôi hãy cứ lo học, chuyện còn lại để cô lo.
.jpg)
"Lớp Trung học đầu tiên" - Diệp Minh Châu (1948). (Ảnh: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam)
Năm 1977, tôi theo gia đình về Quảng Nam lập nghiệp, mang theo lời dặn của cô giáo và tình cảm bạn bè như một thứ hành trang vô giá. Hơn bốn mươi năm đứng trên bục giảng, tôi đã nỗ lực biến mình thành ngọn đèn mà thầy cô giáo đã thắp lên năm nào để truyền trao ngọn lửa ấy cho biết bao thế hệ học trò miền Trung quê tôi. Đến khi mái đầu đã bạc, rời xa bục giảng để về nghỉ hưu theo chế độ, tôi thấy mình vẫn chẳng thể nào rời xa con chữ. Nhìn những học trò nghèo hôm nay cũng lầm lũi vượt khó như mình ngày trước, tôi lại tiếp tục dấn thân vào công tác khuyến học. Với tôi, nghỉ hưu không có nghĩa là dừng lại, mà là chuyển sang một tư thế khác để nâng đỡ những đôi chân trẻ tuổi. Tôi cùng các đồng nghiệp lặn lội về những vùng xa, tìm kiếm từng nguồn hỗ trợ để góp sức nâng bước cho các em sinh viên, học sinh vượt qua nghịch cảnh. Mỗi suất học bổng trao đi không chỉ là vật chất, mà là gửi gắm một niềm tin rằng con đường tri thức sẽ thay đổi số phận, giống như cách mà thầy cô và bạn bè đã từng tin tưởng tôi.
Đà Nẵng chiều nay nắng hanh hao, dòng sông Hàn trôi chậm lại như đang cùng tôi chiêm nghiệm về một hành trình dài của đời người. Đứng trên cầu Rồng nhìn về phía cửa biển, tôi thấy mình vẫn là cậu học trò nghèo của năm nào bên bến đò xóm Giá. Cuộc đời tôi may mắn được sống trong tình yêu thương và sự bao bọc của cha mẹ, thầy cô cũng như bạn bè. Có lẽ vì thế, tôi coi việc làm khuyến học hôm nay như một sự trả nghĩa cho những người đi trước, những người đã nâng bước chân tôi vượt qua dốc đá Tràng Kênh ngày nào.
Ngọn lửa tình người từ gian bếp của Bà Ngoại, từ ổ bánh mì của bạn, từ bộ quần áo của cô giáo và bạn bè trao tặng vẫn luôn cháy mãi trong tim. Nó thôi thúc tôi tiếp tục hành trình "tiếp lửa", nâng bước cho học sinh và sinh viên nghèo tới trường. Với tôi, khuyến học chính là công việc của trái tim, nơi những ân tình cũ luôn là điểm tựa ấm áp nhất để tin, để yêu và cùng đi trọn một kiếp người.



